Hôm nay,  

Thiên Chúa của Di Dân

26/12/202509:54:00(Xem: 374)
thien chua hai dong
Vì yêu thương thế gian và muốn cứu độ trần thế, Thiên Chúa sai Người Con vượt đường biên giữa thiên đàng và trần thế. Ngôi Lời là Thiên Chúa nhưng đã nhập thể và cư ngụ giữa chúng ta (Ga 1:1,14). Từ “cư ngụ” ở đây không chỉ nói đến việc hiện diện, mà còn mang ý nghĩa định cư, ở lại, đồng hành để chia sẻ và rao giảng Tin Mừng.

LTS: Trong một thế giới đầy biên giới và những đoàn người lên đường tìm chốn sống còn, bài viết của Linh mục Michael Quang Nguyễn SVD gợi mở  suy tư sâu sắc về mầu nhiệm Giáng Sinh qua hình ảnh “Thiên Chúa Di Dân”. Từ bước chân vượt biên của Ngôi Lời nhập thể đến hành trình ly hương của con người hôm nay, tác giả cho thấy di dân không chỉ là một thực tại xã hội mà còn là ơn gọi của đức tin — nơi Thiên Chúa — Đấng vượt biên vì yêu thương, đồng hành và chúc phúc cho hành trình ly hương của nhân loại hôm nay.

***

Khi nói đến Thiên Chúa, người Kitô hữu thường nhấn mạnh đến những minh họa thần học về Ngài: Đấng Nhân Từ, Đấng Sáng Tạo, hoặc Đấng Cứu Độ. Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm này, lịch sử ơn cứu độ còn mặc khải một chiều kích khác của Thiên Chúa: Ngài là một Thiên Chúa Di Dân.

1. Di dân: Một thực tại nhân loại phổ quát

Di dân là một thuật ngữ chỉ việc di dời từ một vùng đất định cư sang một vùng đất khác để tái định cư. Nhìn dưới một lăng kiếng khác, di dân là hành động vượt qua các đường biên, biên giới địa lý, văn hóa, xã hội, và tâm linh.

Con người di dân vì nhiều lý do khác nhau. Có người di dân vì tôn giáo. Người Thanh giáo đã rời bỏ quê hương Âu Châu tới Bắc Mỹ bởi những bách hại tôn giáo. Một thời gian sau, nhiều chuyến tàu di dân khác từ Âu Châu bởi chính trị, tôn giáo, hoặc thiên tai cũng dừng tại bờ biển phía đông Bắc Mỹ, tạo nên Cananda và Hoa Kỳ.

Có người di dân vì chính trị. Thuyền nhân Việt Nam bởi biến cố 1975 đã rời bỏ quê hương. Họ sau cùng tái định cư tại nhiều quốc gia trên thế giới. Hoa Kỳ, Úc Châu, và Canada là những nước có nhiều thuyền nhân Việt Nam định cư. Những cộng đồng Việt tỵ nạn định hình nên những cộng đồng Việt Nam hải ngoại.

Và cũng có người di dân vì kinh tế, để tìm sự sống tốt đẹp hơn cho bản thân và gia đình. Nhiều cư dân Nghệ An và Hà Tĩnh có mặt tại nhiều quốc gia Tây phương, Đài Loan, và Thái Lan

Di dân vì thế không phải là một hiện tượng ngoại lệ hay bất thường, nhưng là một phần của lịch sử con người. Di dân đã đến và di dân sẽ còn ở lại với con người cho đến những giây phút cuối cùng của nhân loại.

2. Mùa Vọng – Giáng Sinh: Mùa của Thiên Chúa vượt biên

Dưới lăng kiến di dân như vừa trình bày, Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh không chỉ là thời gian chuẩn bị và cử hành một biến cố phụng vụ, nhưng là mùa minh họa một cuộc di dân mang tính quyết định trong lịch sử cứu độ.

Vì yêu thương thế gian và muốn cứu độ trần thế, Thiên Chúa sai Người Con vượt đường biên giữa thiên đàng và trần thế. Ngôi Lời là Thiên Chúa nhưng đã nhập thể và cư ngụ giữa chúng ta (Ga 1:1,14). Từ “cư ngụ” ở đây không chỉ nói đến việc hiện diện, mà còn mang ý nghĩa định cư, ở lại, đồng hành để chia sẻ và rao giảng Tin Mừng.

Trong đêm Giáng Sinh đầu tiên của lịch sử cứu độ:

Ngôi Lời rời bỏ thiên tính vinh quang,
từ bỏ khu vực an toàn,
để trở nên một phàm nhân,
và hơn thế nữa, trở nên một người di dân, một người tỵ nạn.

Mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể minh họa một nét thần học di dân. Thiên Chúa không cứu độ con người từ xa, nhưng bằng cách bước vào chính kinh nghiệm mong manh của con người, trong đó có kinh nghiệm di dân.

3. Di dân được Thiên Chúa chúc phúc

Trái với cái nhìn tiêu cực thường thấy trong xã hội, Kinh Thánh cho thấy di dân được Thiên Chúa chúc phúc.
Ngay từ khởi đầu, lời chúc phúc “Hãy sinh sôi nảy nở” hàm chứa sự lan tỏa, mở rộng, di chuyển. Lịch sử cứu độ được dệt nên bằng những bước chân di dân. Tổ phụ Abraham, người được Thiên Chúa mời gọi dời bỏ quê cha đất tố đi đến một vùng đất xa lạ. Dân Israel, di dân từ đất Canaan sang Ai Cập. Rồi cũng từ Ai Cập, họ băng qua sa mạc di dân về Đất Hứa;

Người Việt Nam sau biến cố 1975, những con người rời bỏ quê hương vì chiến tranh, chính trị, tìm kiếm tự do, mang theo đức tin như hành trang quý giá nhất. Nơi vùng đất tái định cư, niềm tin vào Thiên Chúa là động lực là nền tảng để cộng đồng di dân Công giáo xây dựng lại một cuộc sống mới. Từ những trại tỵ nạn cho tới những thành phố tái định cư, người Việt Nam của những thế hệ di dân biến cố 75, và luôn cả những di dân mới đều có chung một mẫu số: họ đến nhà thờ tìm kiếm nguồn nương tựa tinh thần.

Trong tất cả những cuộc di dân ấy, Thiên Chúa luôn đồng hành, hướng dẫn và chúc phúc.

4. Di dân: Một hiện tượng tự nhiên từ khởi nguyên

Di dân không chỉ là hiện tượng xã hội, mà còn là một quy luật tự nhiên của sự sống:
Cuộc sống thay đổi sau khi những sinh vật đầu tiên từ đại dương di cư lên đất khô. Sau khi rời khỏi châu Phi, con người lan tỏa khắp các lục địa tạo nên những nền văn hóa mới với những nét đặc thù.
Trong truyền thuyết Việt Nam, Âu Cơ và Lạc Long Quân chia con, một nửa lên núi, một nửa xuống biển. Trong dòng lịch sử dân tộc, người Việt từ đồng bằng sông Hồng di dân xuống phương Nam, mở rộng bờ cõi và văn hóa.
Di dân, vì thế, không phải là sự đứt gãy, mà là một động lực nẩy sinh những điều mới, sự sống mới, phát triển mới và sáng tạo mới.

5. Giáo hội lữ hành: Giáo hội di dân

Giáo hội tự bản chất là một Giáo hội lữ hành, và do đó cũng là một Giáo hội di dân.

Giáo hội không có quê hương vĩnh viễn nơi trần thế. Giáo hội luôn ở trong hành trình:

— Vượt qua những biên giới văn hóa,
— Vượt qua những khác biệt ngôn ngữ,
— Vượt qua những khu vực an toàn quen thuộc, để loan báo Tin Mừng.

Như Thiên Chúa đã di dân vì yêu thương, Giáo hội cũng được mời gọi đi ra, đồng hành với người di dân, và nhận ra nơi họ dung mạo của chính Đức Kitô, Người Di Dân hình mẫu.

6. Mục vụ trong bối cảnh Việt Nam và toàn cầu

Trong bối cảnh người Việt Nam di dân sau biến cố 1975, kinh nghiệm đức tin đã được nuôi dưỡng và lớn lên nơi những cộng đồng xa xứ. Điều này cho thấy di dân không giết chết đức tin, nhưng thanh luyện và làm phong phú thêm nền tảng đức tin.

Bởi thế thần học mục vụ về Thiên Chúa Di Dân mời gọi Giáo hội toàn cầu cũng như giáo hội địa phương:

— Nhìn người di dân không phải là gánh nặng, mà là ân sủng;
— Biến giáo xứ thành ngôi nhà mở, không biên giới, nơi đó người di dân được mọi thành viên của giáo xứ chào mừng, giúp đỡ để họ có thể nhanh chóng hội nhập vào đời sống;
— Đào tạo các mục tử có khả năng đồng hành với người di dân;
— Đọc lại Mùa Vọng và Giáng Sinh như mùa của di dân, một mùa của hy vọng giữa lòng một xã hội bất định và đóng cửa lòng bởi nghi kị.

Kết luận

Thiên Chúa là một Thiên Chúa lên đường. Ngài là Thiên Chúa Di Dân, Đấng vượt biên vì yêu thương, nhập thể để ở với con người, và mời gọi Giáo hội bước vào cùng một chuyển động vượt biên và đồng hành. Trong thế giới đầy biên giới và chia cắt hôm nay, thần học về Thiên Chúa Di Dân không chỉ là một suy tư trí thức, mà là một lời mời hoán cải mục vụ, để Giáo hội trở nên dấu chỉ sống động của Nước Thiên Chúa giữa lòng nhân loại đang di cư.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chúng ta đang sống trong một xã hội đầy bất an vì hận thù, chiến tranh, kỳ thị chủng tộc và giới tính, tàn bạo đối với di dân, nhẫn tâm đối với những người nghèo khổ, phát tán thông tin độc hại, tuyên truyền các chủ thuyết âm mưu, v.v… Chính vì thế, chúng ta cần sự bình an và tử tế trong cuộc sống hàng ngày hơn bao giờ hết! Đây là lý do tại sao khi cuộc hành trình “Đi Bộ Vì Hòa Bình” [Walk for Peace] của Tăng Đoàn Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravada), gồm khoảng 20 vị Tăng thuộc nhiều sắc dân như Thái Lan, Lào, Việt, do Sư Tuệ Nhân (Venerable Bhikkhu Pannakara) lãnh đạo, bắt đầu vào ngày 26 tháng 10 năm 2025 từ Chùa Hương Đạo, thành phố Fort Worth, Texas đã được hàng ngàn người khắp nước Mỹ chú ý và ủng hộ, mà trong đó có các giới chức lập pháp và hành pháp liên bang, tiểu bang và địa phương nơi đoàn bộ hành đi qua. Sư Tuệ Nhân là người Mỹ gốc Việt đã đến định cư tại Hoa Kỳ năm 1997. Sư xuất gia với Hòa Thượng Bửu Đức, vị sáng lập và Trụ Trì Chùa Hương Đạo.
Tổ Đình Chùa Huệ Quang do Hòa Thượng Thích Minh Mẫn khai sơn, viện chủ đã long trọng tổ chức Lễ Hiệp Kỵ, Lịch Đại Tổ Sư và họp mặt Chư Tôn Đức Tăng Ni, buổi lễ diễn ra vào lúc 10 giờ sáng Thứ Năm ngày 25 tháng 12 năm 2025. Chứng minh tham dự buổi lễ khoảng 250 chư tôn Giáo Phẩm, Chư Tôn Đức Tăng, Chư Tôn Đức Ni và rất đông đồng hương Phật tử. Chư Tôn Đức chứng minh có quý Trưởng Lão: Hòa Thượng Thích Phước Thuận, HT. Thích Minh Tuyên, HT. Thích Thiện Long, HT. Thích Minh Mẫn, HT. Thích Viên Lý, HT. Thích Giác Ngôn, HT. Thích Minh Trí, HT. Thích Thông Hải, HT. Thích Quảng Mẫn, HT. Thích Tâm Thành… cùng chư Thượng Tọa Đại Đức Tăng, quý Ni Trưởng, Ni Sư cùng chư tôn đức Ni.
Sư ra đi một ngày mùa đông phương ngoại, trời mưa sụt sùi tiễn đưa ngày tang lễ. Di sản là những trang sách cặm cụi ngày đêm phiên dịch, sáng tác; và một nụ cười tự tại, hiền hòa, khó quên.
Đi bộ cầu nguyện, hành hương, tam bộ nhất bái, nhất bộ nhất bái…là những phương pháp thực hành vốn có lâu đời trong Phật giáo. Người Tây Tạng hàng ngày vẫn thực hành nhất bộ nhất bái, hàng năm đi bộ nhiễu quanh cung Potala ở Lhasa hoặc đi vòng quanh núi thiêng Kailash.
Theo tin tức từ tu viện Lộc Uyển, một trường trung tiểu học tư thục mang tên Thích Nhất Hạnh School of Interbeing sắp mở cửa tại vùng Escondido Nam California. Mục đích của trường là không chỉ giảng dạy kiến thức phổ thông như các trường khác, mà còn chú ý hướng dẫn đời sống tinh thần; để các em học sinh sau này có thể vừa thành công trong nghề nghiệp, vừa có khả năng chế tác hạnh phúc cho chính mình, cho gia đình và cho cộng đồng xã hội.
Trong không khí trang nghiêm và hoan hỷ của ngày Phật sự trọng đại, Đại Hội Hoằng Pháp kỳ III của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) đã được long trọng cử hành trực tuyến qua hệ thống Zoom Meeting vào Thứ Sáu, ngày 19 tháng 12 năm 2025 (nhằm ngày 30 tháng 10 năm Ất Tỵ, Phật lịch 2569).
Một đời 80 năm của Sư, nói năng như Chánh pháp, im lặng như Chánh pháp. Nói hay im cũng vì Phật Pháp, vì lợi ích của số đông. Không ngại lên tiếng trước bạo quyền dù phải đối diện với án tử hình; và kham nhẫn im lặng đối với đồng đạo, tôn sư dù phải chịu bao điều tiếng thị-phi, oan ức. Có thể nói công hạnh như vậy là công hạnh của hàng Thánh giả.
Chớm thu hiu hắt đồi hoang cũ / Lối mòn cỏ lấp dấu chân xưa / Người đi vạn dặm không tung tích / Để lại muôn lời rơi như mưa.
Ông tên Nguyễn Văn Lịch quê quán tỉnh Mỹ Tho, theo nghiệp võ làm đến chức Quản Cơ triều đình Việt Nam. Khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông, đau lòng trước cảnh nước mất nhà tan, đồng bào đau khổ. Ngài quy tụ nghĩa binh đánh phá quân Pháp bằng chiến thuật du kích, khôn ngoan, can đảm đã đạt được nhiều chiến thắng vẻ vang. Ông Nguyễn Trung Trực còn là thủ lĩnh phong trào chống Pháp vào cuối thế kỷ 19. Tên tuổi của ông là niềm tự hào của người dân Nam bộ và của cả nước với câu nói bất hủ : “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Nam đánh Tây”.
Pháp Hội Địa Tạng Lần Thứ 14 do Hòa Thượng Thích Thánh Minh, Phó Chủ Tịch Nội Vụ Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ (GHPGVNTN/HK), Viện Chủ Chùa Hội Phước New Mexico, Trú Xứ Chùa Liên Hoa Nam California làm Trưởng Ban Tổ Chức, cùng Ông Triết Nguyễn, Giám Đốc Nhà Quàn Peek Funeral Home Phó Ban tổ chức, Đạo hữu Linda Trần, Phó ban tổ chức, đã long trọng cử hành vào thứ Bảy ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Tôn Tượng Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát (cạnh Tượng Đài Thuyền Nhân Việt Nam.) trong nghĩa trang Peek Funeral Home. (Lễ đài được thiết lập trong khu nhà quàn trước Phóng số 4.)


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.