Hôm nay,  

Bính Ngọ Ơi!

06/02/202600:00:00(Xem: 32)
 Hinh conh ngua 3
 
Là lũ chúng tôi đấy, những con “ngựa” sinh năm Bính Ngọ 1966.
 
Năm đầu tiên bước vào ngưỡng cửa cấp ba, chúng tôi còn ngơ ngác, nhìn nhau …phòng thủ nhiều hơn là thân thiện . Bởi đó là  năm lớp 10, vừa mới chia tay bạn bè, thầy cô của mái trường cấp hai, lại nghe nói lớp 10A1 năm nay sẽ là “Lớp Điểm” dành cho những học sinh được tuyển thẳng từ lớp 9 lên lớp 10 và những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi lên lớp 10 .
 
Nhưng tuổi trẻ vốn dĩ năng động, lại có máu “ngựa” hăng hái nên chúng tôi mau chóng phá bỏ những ngập ngừng xa lạ ban đầu, từ mùa Xuân đầu tiên của năm ấy. Trường tổ chức liên hoan văn nghệ, lớp tôi ngoài vài mục đơn ca là phần hợp ca kèm hoạt cảnh Hội Nghị Diên Hồng (Nhạc Lưu Hữu Phước- Lời Việt Tiến). Suốt hai tuần tập dợt sau giờ học, là những trận cười đau bụng, khi nhóm đóng vai ông già bà cả đi tham dự Hội Nghị Diên Hồng phải diễn y như thiệt, nhưng hễ nhìn thấy chàng lớp phó cầm loa bắt đầu tiết mục, ngân nga: “...Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng, biên thùy rung chuyển…” là chúng tôi không nhịn được cười . Rồi nhóm hợp ca, khi thấy nhóm “ông già bà cả” còng lưng run rẩy đi dự Hội Nghị thì bật cười ha hả, không thể nào cất tiếng ca: “Kìa vầng hồng bừng chiếu trên đỉnh núi, ôi Thăng Long khói kinh kỳ phơi phới…”! Cứ vài lần như thế, chàng lớp trưởng ra lệnh mọi người phải diễn tập nghiêm túc vì trời đã về chiều tối, còn phải về nhà. Tôi về nhà, vừa ăn cơm vừa nghĩ đến cảnh tập dượt mà tủm tỉm cười một mình. Chưa chính thức đến ngày biểu diễn mà chúng tôi đã gần gũi như tự bao giờ. Sau chương trình văn nghệ toàn trường, mỗi lớp tự liên hoan Tết với nhau. Lớp tôi kéo lên sân thượng trường, là nơi ở của thầy Chủ Nhiệm, thầy người Quảng Nam, món Mì Quảng do mẹ một bạn trong lớp nấu, lần đầu tiên tôi ăn món này vừa lạ vừa đùa giỡn vui chơi với bạn bè nên món ăn bỗng ngon tuyệt vời.
 
Chúng tôi, bầy ngựa non mười tám tuổi
Thức hay mơ đều thấy chuyện thiên đường
Đời vẫn nên thơ dù có lúc buồn
Lòng mở sẵn những ngày vui rạo rực
 
Như thế đấy, suốt ba năm cấp ba, 10A1-11A1-12A1 và vài năm sau nữa khi đã ra trường, chúng tôi vẫn giữ phong tục sáng mồng ba Tết, lớp trưởng và nhóm điều hành lớp, sẽ xuất phát, đi vòng vòng chúc Tết gia đình các bạn trong lớp, từ sáng sớm cho đến chiều, đoàn người ngày càng đông, chúng tôi sẽ kéo nhau đi chúc Tết Thầy Chủ Nhiệm, sau đó cả đám lại kéo nhau ra trung tâm Sài Gòn, chơi Thảo Cầm Viên, Tao Đàn, xem ca nhạc, và lần nào cũng kết thúc tại một quán hủ tíu về khuya trước khi chia tay ai về nhà nấy.
 
Rồi thời gian trôi đi, sau khi ra trường, kẻ vào Đại Học, Cao Đẳng, người đi làm, nỗi nhớ thương lớp cũ trường xưa chưa bao giờ phai nhòa. Chúng tôi vẫn tiếp tục gặp nhau, những buổi picnic tại Núi Bửu Long mùa hè, thăm nhau ngày xuân, số lượng người tham gia dần dần rơi rụng vì cuộc sống mưu sinh, vì gia đình, và cũng có vài bạn “rơi rụng” đúng theo nghĩa đen, vì bệnh hoạn hiểm nghèo, và đau lòng hơn có bạn bỏ xác ngoài Biển Đông trên con đường vượt biển tìm tự do.
 
Những con ngựa năm xưa, nay đã không còn trẻ nữa, mỗi đứa lưu lạc một phương trời, kẻ ở Mỹ, Canada, Úc, Châu Âu, mà dù đông nhất vẫn còn ở lại Việt Nam cũng tản mát khắp chốn, mỗi lần hẹn gặp nhau không phải là chuyện dễ dàng.
 
Thời gian qua đi có trở lại bao giờ! Biết tìm đâu những tháng ngày như Hồ Dzếnh: “Đời đẹp quá, tôi buồn sao kịp ?” và như Hoàng Thi Thơ: “Tìm đâu những ngày chưa biết yêu? Chỉ biết thấy lòng nhớ thương nhiều!”??
Nếu con “ngựa” trong “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” ( Phạm Duy- Ngọc Chánh) chỉ mong về đến bến sông xưa, “cởi mở lòng ra với cõi đời”, thì lũ chúng tôi, tuy không phải là bầy ngựa hoang đàng, nhưng cũng mang trên lưng những dấu vết nhọc nhằn, đôi lúc giữa dòng sông đời hối hả, chỉ ước ao được quay về khúc sông xưa của tuổi học trò mộng mị, dẫu biết rằng đó chỉ là mộng thôi .
 
Đến lúc cứ ngỡ như chẳng còn cơ hội hàn huyên tếu táo với bạn bè thì may mắn thay, thời đại công nghệ bùng nổ, chúng tôi vui sướng “ngồi lại với nhau” như chung lớp học ngày xưa qua Group Facebook 12A1, còn gì hạnh phúc bằng.
 
Lúc đầu mới thành lập nhóm, chỉ gần chục người, nhưng chưa đầy một tháng, các bạn khác lần lượt gia nhập, lên đến con số hơn 30 người, dù chưa phải là đầy đủ sĩ số lớp như xưa, nhưng cũng gọi là đông đảo, nhộn nhịp .
 
Chúng tôi lại tíu tít như tuổi mười tám. Gọi nhau “mày tao” như “khi xưa đôi ta bé ta chơi”, trêu đùa chọc ghẹo, nhắc lại kỷ niệm ba năm dưới mái trường. Có bạn còn vẽ lại sơ đồ lớp, ai ngồi chỗ nào, bạn nào có tật xấu gì, thầy cô nào có những thói quen, bí mật gì … được chúng tôi “bơi móc” ra đầy đủ . Chúng tôi đưa lên Group những tấm hình thuở ấy, những trang “lưu bút ngày xanh” cũng có người còn giữ được, những kỷ vật vô giá của tuổi học trò.
Có bạn khơi lại những câu chuyện tình “anh theo Ngọ về” của lớp, đề tài này hào hứng nhất, vì chúng tôi hầu hết ai cũng tuổi Ngọ, ai cũng muốn “xí” (mơ đi cưng!) bài Ngày Xưa Hoàng Thị (Phạm Thiên Thư- Phạm Duy)  là của riêng mình, thế là có ngay… Ngày Xưa Nguyễn Thị, Trần Thị, Lê Thị, Võ Thị, Bùi Thị … rồi say sưa sống lại những khoảng thời gian hạnh phúc vô tư ấy:
 
Chúng tôi mơ những cánh đồng vô tận
Gió bụi làm đẹp lứa tuổi thanh xuân
Vó ngựa dập dồn không mỏi bước chân
Lòng hối hả như dòng sông cuồn cuộn chảy
 
Tuổi đời thêm chồng chất, lớp Bính Ngọ nay vẫn là những con người ấy, nhưng chín chắn hơn, trưởng thành nhiều hơn.
Giờ đây, lớp chúng tôi vinh dự có một Linh Mục Công Giáo (trước đây là chánh xứ Phú Trung, Tân Bình và hiện nay chánh xứ Phú Hạnh, quận Phú Nhuận) . Có những chàng và nàng bác sĩ, kỹ sư, doanh nhân thành đạt, kinh doanh thành công. Có chàng bên Úc lập nên nhóm từ thiện Bàn Tay Nhân Ái dành riêng cho lớp và những bạn bè cùng trường cũ. Điều lệ và mục tiêu rõ ràng, các thành viên hải ngoại đóng niên liễm 200 đô một năm, các thành viên ở Việt Nam đóng niên liễm 2 triệu VNĐ một năm, đó là quỹ để giúp cho các trẻ em bị ung thư tại bệnh viện Ung Bướu Gia Định hoặc bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn. Đã hơn 8 năm cho đến nay, nhóm từ thiện hoạt động không ngừng, điều lệ ban đầu dường như chẳng ai nhớ, vì ai có bao nhiêu góp bấy nhiêu, có khi chưa đến hạn kỳ niên liễm, các “mạnh thường quân” của lớp vẫn thỉnh thoảng rót tiền vào quỹ những số tiền lớn, nhỏ, và như thế, Bính Ngọ chúng tôi vẫn luôn sát cánh bên nhau, lúc họp mặt ngoài đời theo từng nhóm khi có dịp, hoặc họp mặt online trên Facebook 12A1 và Facebook Bàn Tay Nhân Ái.
 
Năm nay, Bính Ngọ 2026, chắc hẳn nhiều chàng và nàng Bính Ngọ 1966 khắp nơi đang xao xuyến bồi hồi, ngẩn ngơ nhìn tuổi Xuân trôi qua . Bài viết này xin tặng cho tất cả Bính Ngọ và cho Bính Ngọ lớp tôi với tình yêu và kỷ niệm thời mắt sáng môi hồng, vì lần tới Bính Ngọ sẽ là năm …2086.
Viết tới những dòng chữ này, tôi nhận được tin, có một bạn Bính Ngọ từ San Jose vừa bay về Việt Nam và lớp có buổi họp mặt tại nhà xứ giáo xứ Phú Hạnh, quận Phú Nhuận, của Cha Joseph Lê (một trong những Bính Ngọ 12A1). Nhìn những tấm hình các bạn quây quần vui vẻ, trong đó có tấm hình ổ bánh với hàng chữ “ Mừng Họp Mặt 12A1-Xuân Bính Ngọ 2026” mà Cha Joseph nói hài hước là “ Mừng lục tuần của chúng ta”, khiến lòng tôi nao nao nhung nhớ .
 
Cuối cùng, là bài thơ “Bính Ngọ tôi”, viết riêng cho “chàng Bính Ngọ” cùng lớp năm xưa:
 
NHỮNG MÙA XUÂN PHAI
 
Ai vừa nhắc Bính Ngọ 1966?
Mười tám đôi mươi xanh lắm cuộc đời
Đường vào yêu như một cuộc  dạo chơi
Tôi vụng dại mất người từ dạo đó
 
Khi còn trẻ hồn ta là nắng gió
Mong manh như nắng sớm với mưa chiều
Nên khi người chưa kịp ngỏ tiếng yêu
Tôi đã vội đi tìm tình yêu khác
 
Tôi đâu biết đã vô tình dẫm nát
Nụ hoa tình hé nở một đêm xuân
Người đã vì tôi thương nhớ bao lần
Tình trong trắng tuổi học trò hoa bướm
 
Ôi ngắn ngủi những mùa xuân mới lớn
Đã tàn phai, bể dâu mấy nẻo đường
Chợt bàng hoàng nhớ lại một người thương
Êm ái quá mùa xuân trong ánh mắt
 
Nhưng mà thôi, tình đầu không có thật
Như khói sương tan biến tự bao giờ
Cảm ơn người cho một mối tình thơ
Làm kỷ niệm dù bụi mờ năm tháng
 
Rồi hôm nay có người vừa mới nhắc
Tôi bâng khuâng xao xuyến để được gì?
Những mùa xuân vẫn quanh quẩn về, đi ...
Nhưng Xuân Mộng không bao giờ đến nữa !!!
 
Xuân Bính Ngọ 2026
KIM LOAN
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn. Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Khác với các tác giả khác, tất cả tình tiết và diễn biến của câu chuyện đều xoay quanh nhân vật chính, truyện của Kim Dung được tác giả lồng vào những câu chuyện khác, đầy đủ tình tiết éo le từ những nhân vật phụ chung quanh kết nối vào trong tác phẩm một cách khéo léo. Những “Truyện trong truyện” này đã làm cho tiểu thuyết Kim Dung vô cùng đa dạng. Thí dụ trong “Bích Huyết Kiếm”, mối tình giữa Viên Thừa Chí và Hạ Thanh Thanh rất tẻ nhạt, trong khi chuyện tình của cha mẹ Thanh Thanh là nàng Ôn Nghi và Kim Xà Lang Quân lại là một thiên tình sử đầy thương cảm.
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.