Hôm nay,  

Mẫu Mực Trung Quốc

19/10/200500:00:00(Xem: 11398)
- Hội nghị 5 của Ban chấp hành Trung ương khóa 16 đảng CS Trung Quốc đã kết thúc tuần trước với kế hoạch năm năm thứ 11, từ 2006 đến 2010. Có phải CSVN tính theo mẫu mực Trung Quốc"
Trong khi ấy, đảng Cộng sản Việt Nam đang ráo riết sửa soạn Đại hội khóa 10 vào năm tới, với nhiều văn kiện dự thảo phần nào cho thấy màu sắc Trung Quốc trong những định hướng chiến lược của đảng. Do đó, kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ đề cập đến "mẫu mực Trung Quốc" trong chiến lược kinh tế và xã hội của Việt Nam trong tiết mục Diễn đàn Kinh tế kỳ này do Việt Long, đài RFA, thực hiện sau đây…

Hỏi: Theo dõi tình hình Trung Quốc từ lâu, ông có nhận xét gì về Hội nghị Năm của Ban chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc và về những vấn đề trước mắt của quốc gia này"
- Nhận xét trước tiên của tôi là lãnh đạo Bắc Kinh rất kín tiếng về các quyết định của họ trong Hội nghị kỳ năm khóa 16 vừa kết thúc hôm 11. Một phần là vì bên trong còn nhiều quan điểm mâu thuẫn và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cùng Thủ tướng Ôn Gia Bảo có thể vẫn bị lép vế trước các tướng lãnh và trước ảnh hưởng còn mạnh của ông Giang Trạch Dân. Ta thấy ra điều ấy khi văn kiện quan trọng nhất là Kế hoạch năm năm thứ 11, Phát triển Kinh tế Xã hội từ 2006 đến 2010, lại không được công bố trọn vẹn, nhiều đề nghị cải cách chính trị của hai ông Hồ- Ôn bị gác qua một bên, và những gì được tiết lộ lại cho thấy một chuỗi dài những khó khăn.

Hỏi: Trong khi đó, thưa ông, dư luận bên ngoài đánh giá sự việc ấy ra sao"
- Thưa đây là nhận xét thứ hai, thế giới bên ngoài không phải không biết về nỗi khó khăn ấy của Bắc Kinh. Hôm Chủ nhật 16, ở hội nghị của Hội đồng Kinh tế Hỗn hợp Mỹ-Hoa, được triệu tập tại Bắc Kinh ngay sau hội nghị các nhà lĩnh đạo tài chính ngân hàng của nhóm G-20, có lẽ Tổng trưởng Ngân khố Hoa Kỳ John Snow có gián tiếp nói ra điều ấy khi khuyến cáo rằng Trung Quốc có thể gặp nhiều chấn động tất yếu và chỉ đạt mức ổn định cao hơn hầu ứng phó nổi với những chấn động ấy nếu giảm bớt được những xơ cứng trong nền kinh tế.
Như tại Việt Nam, Hội nghị Trung ương là cơ hội cho Ban chấp hành Trung ương khẳng định tư thế của mình với các đảng viên và cán bộ ở cơ sở và địa phương. Tại Trung Quốc lần này, ta không thấy được tư thế ấy của trung ương đối với địa phương, trong nhiều vấn đề rất nóng bỏng của kinh tế và xã hội. Cho nên tôi thiển nghĩ rằng các vấn đề của địa phương sẽ còn là một thách đố lớn cho trung ương, tương tự như những gì đang xảy ra tại Việt Nam ngày nay.

Hỏi: Bây giờ, ta đi vào nội dung của kế hoạch năm năm này, nó có những gì đáng chú ý"
- Văn kiện này chỉ được công bố một phần, với lời giới thiệu là có nội dung rất "cách mạng", thực chất lại là sửa sai đường lối Đặng Tiểu Bình vì những thất quân bình và lệch lạc mà bây giờ giới lãnh đạo Bắc Kinh bắt đầu thấy, còn lãnh đạo Việt Nam thì chưa vì có ai trong đảng có thấy mà nói ra thì lại sợ mang tội "trứng khôn hơn vịt". Tôi sẽ xin giải thích điều ấy sau.
Thứ hai, từ việc sửa sai ấy, ta thấy là lãnh đạo Bắc Kinh đã ý thức được sự khác biệt lớn giữa "tăng trưởng kinh tế" và "phát triển kinh tế". Đó là chuyện thiếu cân đối giữa "lượng" và "phẩm" mà ta nói tới rất nhiều ở ngoài này nhưng ở Hà Nội thì chưa rõ, như có thể thấy trong bản báo cáo chính trị của Chính phủ đã trình Quốc hội cho kỳ họp sẽ khai mạc ngày 18 này.
Thứ ba là dù lãnh đạo Bắc Kinh có thấy ra vấn đề trong cơ cấu và đề ra nhiều giải pháp, thí dụ như định nghĩa lại phạm trù "thịnh vượng hài hòa", hoặc nhắm vào "tăng trưởng bền vững", và tăng cường "phát triển dịch vụ xã hội", thì từ vấn đề đến giải pháp người ta có một khoảng cách rất xa, cụ thể là mất nhiều năm, vì thiếu sự đồng thuận chính trị ở trên cùng. Và đấy là một ách tắc lớn của mô thức phát triển xã hội chủ nghĩa theo màu sắc Trung Quốc.

Hỏi: Chúng ta sẽ lần lượt đi vào từng vấn đề như ông vừa tóm lược ở trên. Trước nhất, vì sao ông lại nói đến một điều rất lạ là "sửa sai Đặng Tiểu Bình". Đường lối cải cách của họ Đặng đã chẳng tạo ra sự kỳ diệu kinh tế Trung Quốc đó sao"
- Thưa rất đúng mà Việt Nam học chậm hơn nên chưa biết là đã đến lúc phải sửa sai rồi cứ coi đó là khuôn vàng thước ngọc. Hãy nói về bối cảnh quyết định của Đặng Tiểu Bình: ông ta biết là sau 10 năm mê sảng của cuộc Đại văn cách thì phải cải tổ và từ bỏ đường lối tập trung kế hoạch. Từ đấy mới có khẩu hiệu rất cách mạng là mọi người phải làm giàu. Nhìn trên tầm vóc "vĩ mô" như lối nói trong nước thì đúng, vì dân có giàu thì nước mới mạnh. Nhưng, một phần tư thế kỷ sau, họ mới thấy tinh thần làm giàu ấy khiến Trung Quốc không có nền kinh tế thị trường mà chỉ có một nền kinh tế lý tài, với hậu quả là tình trạng vô trách nhiệm chung, đi cùng nạn tham nhũng - càng gần quyền lực tham ô càng cao.
Về mặt kinh tế xã hội thì ta có nạn môi sinh bị hủy hoại - một loại phí tổn kinh tế không được khấu trừ vào tốc độ tăng trưởng sản xuất rất cao. Thứ nữa, và đây một thách đố cho sự tồn vong của chế độ, là hố sâu giàu nghèo bị mở rộng. Nhóm thập phân nghèo nhất - tức là một phần mười dân số nghèo nhất - chỉ kiểm soát được 2% của tài sản quốc dân, trong khi nhóm giàu nhất làm chủ đến 40%. Thực tế bất công ấy là điều mỉa mai cho lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam cũng đang leo thang lên cái nấc đó mà chưa biết sợ.

Hỏi: Ông cho là lãnh đạo Bắc Kinh đã biết sợ nên mới điều chỉnh lại hướng đi của họ Đặng"


- Từ nhiều năm nay, biểu tình và bạo động đã xảy ra như cơm bữa ở nhiều nơi, vì chuyện nhỏ như giải phóng mặt bằng hoặc dãn dân để thực hiện các dự án ở địa phương, hoặc những chuyện lớn hơn, như dân Hồi nổi loạn không ở Tân Cương xa xôi mà ở tại Hà Nam. Cuối năm ngoái, năm vạn người Hồi đã biểu tình tại Tứ Xuyên. Đảng Cộng sản Trung Quốc mong nắm được quyền lực nhờ bát cơm và tự ái dân tộc. Bát cơm ấy ngày nay hết còn hấp dẫn, đảng có phi thuyền Thần Châu để vuốt ve tự ái dân tộc. Nhưng động loạn đã là mối nguy khó tránh vì vậy Hội nghị Trung ương mới nói đến phát triển hài hòa, bền vững và tăng cường dịch vụ xã hội, và trước đấy là việc thành lập các lực lượng cảnh sát đặc biệt chống biểu tình. Sự kỳ lạ của sự kỳ diệu kinh tế Trung Quốc là phải dùng cảnh sát dẹp loạn ngoài thị trường.

Hỏi: Ông cho là Bắc Kinh đã biết sợ nên đang sửa, còn Hà Nội thì chưa nên vẫn coi mô thức Trung Quốc là mẫu mực"
- Tôi e là như vậy. Có thể vì lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam tin vào sức trấn áp của họ, đi cùng kết quả của chính sách ngu dân, là làm người dân hết biết so sánh. Trên cùng, có thể là họ tin vào sự hèn yếu nhu nhược của người dân, vì chẳng ai dám chống đối, miễn sao làm giàu thật nhanh, như Trung Quốc là đủ.

Hỏi: Bước qua nhận xét thứ hai, sự khác biệt giữa lượng và phẩm, giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế. Hội nghị Trung ương tại Bắc Kinh đã thấy ra điều ấy, Việt Nam thì chưa"
- Thưa vâng. Về ngôn từ, người ta chưa phân biệt nổi hai chuyện tăng trưởng và phát triển, và còn rơi vào phản ứng thái quá dễ hiểu. Sau nhiều năm tuyên xưng khẩu hiệu không định lượng, ngày nay, Hà Nội chỉ nói đến nào năm mục tiêu, tám nhiệm vụ rồi các chỉ tiêu với hàng trăm con số rất có vẻ khoa học. Đảng Cộng sản Trung Quốc thì nói ra là "Nạn mù quáng theo đuổi mức tăng trưởng kinh tế dẫn tới đầu tư mù quáng, gây thiệt hại cho môi sinh và nạn thống kê sai lạc", như chính Tân Hoa Xã đã tiết lộ. Vì thế, họ mới nhắm vào các chính sách tăng trưởng và phát triển bền vững. Tức là tăng trưởng chỉ trở thành phát triển khi tồn tại lâu dài và đem lại lợi ích đồng đều hơn. Từ lượng, họ đã chú ý đến phẩm, đến các tỉnh bị lãng quên, bị tụt hậu và nói đến ý niệm thịnh vượng hài hòa, tăng trưởng có cân đối. Vì nếu không, đảng sẽ mất quyền.

Hỏi: Nhưng, ông có nêu nhận xét thứ ba là dường như lãnh đạo Bắc Kinh vẫn chưa đạt được sự đồng thuận ấy trong Hội nghị Trung ương vừa rồi, điều đó có là một mâu thuẫn chăng"
- Những tin tức được tiết lộ ra ngoài cho thấy có nhiều tranh luận gay gắt ngay trong bộ Chính trị, là cơ chế thực tế điều khiển hội nghị trung ương này. Một số người duy ý chí thì vẫn đề cao chủ trương tăng trưởng tối đa của nguyên chủ tịch Giang Trạch Dân trong khi ông Hồ Cẩm Đào có vẻ dè dặt hơn và đề nghị một số biện pháp điều chỉnh. Cuộc tranh luận vẫn chưa ngã ngũ và hai ông Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo chỉ có thể nêu lên một số phương hướng điều chỉnh như chúng ta vừa trình bày.
Điều ấy dẫn tới hai hậu quả, thứ nhất, tập thể lãnh đạo này không thể có những quyết định thực sự cách mạng, như tình hình đang đòi hỏi vì tiến trình tranh luận hay thuyết phục có thể kéo dài rất lâu trong khi vấn đề vẫn hàng ngày trở thành nguy ngập hơn. Hậu quả thứ hai là khi trung ương còn đang ú ớ như vậy thì các địa phương vẫn tiếp tục đường lối cũ, nghĩa là tiếp tục gây thêm vấn đề khiến động loạn càng dễ bùng nổ.

Hỏi: Và ông gọi đấy là ách tắc cơ bản của mô thức "phát triển xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Quốc". Nhưng vì sao lại có ác tắc như vậy và nó có khác gì mô thức gọi là "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" tại Việt Nam không"
Việt Nam bị "Hán hóa" nhiều hơn là người dân có thể nghĩ. Lãnh đạo Hà Nội không dám sáng tạo điều gì khác với Bắc Kinh. Cái định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam cũng chỉ là một "màu sắc Trung Quốc" mà thôi và dẫn tới những hậu quả tương tự. Cả hai mô thức này đều dẫn tới hiện tượng các trung ương ủy viên đóng cửa họp kín để gọi là lo việc nước, sau đó, người nào cũng lo lấy cho mình. Nếu sự thể được trình bày công khai, quan điểm nào hợp với ý dân thì được quần chúng ủng hộ, người ta thoát được cảnh họp kín để tìm sự đồng thuận qua lắm thủ đoạn nhiều khi bất chính mà người dân không biết, hoặc chán rồi không cần biết. Rốt cuộc thì người nào cũng lo lấy cho mình, và đấy là đặc tính của một xã hội "lý tài", mất định hướng tinh thần, mất khả năng ứng phó khi gặp biến động.
Tại Việt Nam, lề lối lãnh đạo ấy dễ dẫn tới sự phân hóa địa phương, thậm chí chia rẽ Nam Bắc như ta đang thấy. Miền Bắc bị ảnh hưởng nặng hơn của lề lối Trung Quốc nên sẽ không thể kiểm soát nổi tình hình ở các địa phương, nguy cơ ấy sẽ tràn ra khỏi lãnh vực kinh tế và là một mối họa không nhỏ.

Hỏi: Còn về miền Nam thì sao, thưa ông"
- Xưa nay, trước cả thời chiến tranh, miền Nam luôn luôn có tinh thần cởi mở phóng khoáng hơn miền Bắc. Sau này, miền Nam cũng tiếp cận với nhiều vấn đề mới hơn trong nền kinh tế thị trường nên biết là phải thay đổi và nhiều khi lẳng lặng thay đổi, chứ không coi Trung Quốc là mẫu mực. Thành thử trong khi miền Bắc nắm giữ quyền lực chính trị thì miền Nam lại tập trung chú ý vào phát triển kinh tế. Giờ đây, quyền lực kinh tế ấy của miền Nam đang trở thành một sức ép chính trị cho miền Bắc, và đấy cũng là một vấn đề.

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.