Hôm nay,  

Trung Quốc Hạ Cánh

01/02/200500:00:00(Xem: 15879)
Cục Thống kê Trung Quốc cho biết đà tăng trưởng Hoa Lục tăng bất ngờ trong quý bốn, quy ra toàn năm là 9,5%, tức kinh tế Trung Quốc chưa giảm tốc độ tăng trưởng như dự tính. Hậu quả ra sao"
Diễn đàn Kinh tế Đài RFA tìm hiểu về sự kiện ấy cùng những hậu quả có thể xảy ra trong thời gian tới trong cuộc phỏng vấn sau đây với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện.
Hỏi: Thưa ông, trên diễn đàn này, ông nhiều lần dự báo Trung Quốc sẽ khó hãm đà tăng trưởng và kinh tế nóng máy sẽ gặp rủi ro hạ cánh nặng nề, thậm chí hạ cánh tan tành. Hôm Thứ Ba 25 tuần qua, Cục Thống kê Quốc gia của Trung Quốc cho biết là tốc độ tăng trưởng trong quý bốn đã gia tăng bất ngờ, quy ra toàn năm là 9,5% so với 9,1% của quý ba. Đây có phải là dấu hiệu về nguy cơ hạ cánh nặng nề hay chưa"
-- Thưa vâng, tuần qua khi ta trao đổi về những nguyên do của trận đói năm Ất Dậu 1945 tại Việt Nam thì Cục Thống kê Trung Quốc báo cáo là tốc độ tăng trưởng sản xuất của quý bốn (QIV) không giảm mà còn lên tới 9,5% quy ra toàn năm. Điều đó có nghĩa là các biện pháp hạ nhiệt kinh tế ban hành từ cuối tháng Tư năm ngoái đã không đạt yêu cầu. Ngoài tin ấy thì ta còn nên để ý đến một biến cố khác là hôm 24, Ngân hàng Hoàng gia Scotland đã công bố kết quả thăm dò ý kiến của giới chỉ huy 65 ngân hàng trung ương trên thế giới, theo đó có tới 70% các ngân hàng trung ương dự tính sẽ giảm tỷ lệ tồn trữ Mỹ kim trong khối dự trữ ngoại tệ của họ. Biến cố thứ hai này sở dĩ đáng chú ý vì sẽ tác động vào kinh tế Trung Quốc, khiến nguy cơ hạ cánh tan tành sẽ dễ xảy ra trong năm nay, và từ Hoa Lục sẽ lan ra các nước Đông Á trong năm tới. Trong khi dịch cúm gia cầm đang lây lan tại Việt Nam với tốc độ đáng ngại, thì hai biến cố kinh tế kể trên có thể báo hiệu nhiều sóng gió cho Việt Nam trong năm Ất Dậu này.
Hỏi: Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu những sự kiện ấy. Trước hết là về đà tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc và khả năng kềm hãm của giới lãnh đạo Bắc Kinh. Câu hỏi đầu tiên thưa ông, vì sao sản xuất tăng mạnh lại là điều đáng ngại" Bình thường thì ai cũng muốn ăn nên làm ra, khi sản xuất gia tăng thì người ta phải mừng chứ sao lại lo ngại"
-- Thưa đúng vậy, nhưng nói chung thì khi kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao như thế, vật giá có thể tăng mạnh hơn và sẽ gây nguy cơ lạm phát. Dùng khái niệm vật lý, ta so sánh điều ấy với hiện tượng nóng máy và có nhu cầu phải “hạ nhiệt” để giữ được một tốc độ hài hòa giữa tăng trưởng và vật giá. Riêng về hoàn cảnh Trung Quốc thì ta chú ý đến hai vấn đề. Thứ nhất, lạm phát trong một xứ có khả năng điều tiết kinh tế thấp thì dễ gây khủng hoảng và ở một xứ độc tài thì dễ dẫn tới động loạn chính trị, đó là một nguyên do gây ra vụ thảm sát Thiên an môn năm 1989 mà ta nhắc đến hai tuần trước khi cựu Tổng bí thư Triệu Tử Dương tạ thế. Thứ hai và nghiêm trọng không kém là phẩm chất tăng trưởng của Trung Quốc thực ra rất kém. Ta đang gặp hiện tượng gọi là bong bóng đầu tư trong rất nhiều lãnh vực. Trái bóng được thổi phồng không cơ sở thì có ngày sẽ vỡ, khủng hoảng sẽ bùng nổ. Nhật Bản từng bị hiện tượng ấy từ năm 1990 và kinh tế suy sụp qua bốn đợt suy trầm giờ này chưa thoát khỏi. Hoa Kỳ cũng bị hiện tượng bể bóng đầu tư như thế trong năm 2000 nên năm sau mới bị suy trầm.
Hỏi: Hai xứ ấy không bị khủng hoảng chính trị, vì sao hoàn cảnh Trung Quốc lại khác"
-- Chủ yếu là do chủ trương giới lãnh đạo Hoa Lục gọi là “kinh tế thị trường theo màu sắc Trung Quốc”, hay nói theo màu sắc Hà Nội, là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đó là kinh tế thị trường bị hạn chế bởi một đảng độc tài và một khu vực nhà nước mục nát, với doanh nghiệp nhà nước được ngân hàng cũng của nhà nước tài trợ bằng thủ thuật ngân sách hay tiết kiệm của dân để khu vực nhà nước giữ vị trí thống trị. Dân Hoa Lục chắt bóp để dành và ký thác đến 30% lợi tức của họ vào các ngân hàng quốc doanh. Các ngân hàng này làm chủ đến 90% tổng số tín dụng và lại thực tế cho vay theo diện chính sách, để tài trợ doanh nghiệp nhà nước với lãi suất hạ, điều kiện ưu đãi, bất kể tới rủi ro tín dụng. Mà doanh nghiệp nhà nước thì kinh doanh kém, lỗ lã kinh niên và để lại núi nợ khó đòi hoặc sẽ mất. Thực tế thì nhà nước lấy tiền dân đi trợ cấp doanh nghiệp của mình mà khi có tiền dễ dàng như vậy, các doanh nghiệp nhà nước phóng tay đầu tư bất kể lời lãi hay rủi ro, trái bóng đầu tư vì vậy dễ căng phồng và sẽ bể. Khi hệ thống ấy sụp đổ thì dân chúng mất tiền. Chưa nói đến 900 triệu nông dân bất mãn, có 250 triệu người đang gặp nguy cơ phá sản như vậy, thì làm gì khủng hoảng chẳng dễ bùng nổ"
Hỏi: Nhưng khi gặp nguy cơ ấy, chính quyền Bắc Kinh tất nhiên phải có biện pháp chứ"
-- Nhưng quá thô và quá trễ. Đầu năm ngoái, người ta đã nói tới nguy cơ nóng máy kinh tế, qua tháng Ba, Bắc Kinh mới đưa ra biện pháp là đồng loạt đông lạnh hệ thống tín dụng, tức là cấm cho vay tiền trong nhiều tháng liền. Biện pháp thô thiển ấy thiếu công hiệu và lượng đầu tư tiếp tục gia tăng và lại gia tăng trong các khu vực kém hiệu năng, là hoàn cảnh hôm nay. Đã vậy, chính quyền vẫn chưa có phản ứng dứt khoát và còn có xu hướng nghe ngóng chờ đợi, trong khi giới đầu tư quốc tế bắt đầu chột dạ nghi ngờ sự kỳ diệu kinh tế của xứ này. Lý do chậm lụt và thiếu tinh tế trong cách đối phó thì kể ra rất nhiều...

Hỏi: Vâng, xin ông giải thích cho vì sao lại có khả năng ứng phó kém cỏi như vậy.
-- Về nguyên tắc, khi gặp nguy cơ nóng máy như vậy, các chính quyền nói chung đều phải nâng lãi suất ngân hàng hay gia tăng mức dự trữ pháp định của ngân hàng để giảm bớt khối lượng tín dụng bơm vào kinh tế. Đồng thời, người ta cũng phải có biện pháp hạn chế đầu tư trong những ngành đang bị quá tải, thí dụ tại Trung Quốc là gia cư địa ốc, xi măng, sắt thép và xe hơi chẳng hạn. Nhưng, vì hệ thống ngân hàng lạc hậu và bộ máy quản lý thô sơ, Trung Quốc không thể điều tiết tín dụng bằng loại khí cụ định phẩm như thế, tức là bằng cách điều chỉnh lãi suất hay dự trữ pháp định mà thiên về giải pháp hành chính. Nhưng mỗi doanh nghiệp nhà nước lại là một thế lực trì hoãn hay tránh né các biện pháp hành chính này. Đã vậy, bên ngoài Hoa Lục, kinh tế thế giới cũng có xoay chuyển và hậu quả sẽ là sức ép rất lớn dội vào trong. Cụ thể là lãi suất tại Hoa Kỳ đã và còn tăng nên sẽ ảnh hưởng đến kinh tế Trung Quốc từ giữa năm nay trở đi.
Hỏi: Và như vậy, chúng ta đang nói đến hiệu ứng của đồng đô la Mỹ phải không"
-- Thưa vâng. Hoa Kỳ đã hạ lãi suất đến mức cực thấp trong nhiều năm liền để đối phó với suy trầm kinh tế sau nạn bể bóng đầu tư năm 2000 và khủng bố năm 2001. Nay kinh tế đã hồi phục và tăng trưởng mạnh nên từ tháng Sáu năm ngoái, hệ thống ngân hàng trung ương Mỹ đã nâng lãi suất và sẽ còn nâng tiếp trong suốt năm nay. Khi lãi suất Mỹ tăng thì tư bản từ các nơi khác sẽ lại chảy về Mỹ vì có cơ hội kiếm lời cao hơn, vì tín dụng cao giá hơn. Giới đầu tư quốc tế đang hoài nghi về thành quả sinh lời tại Hoa Lục sẽ rút tiền đem về Mỹ cùng với nạn tẩu tán tài sản và chuyên ngân lậu của quan chức Trung Quốc; hai yếu tố ấy sẽ là cái duyên của một cái nhân có sẵn và châm ngòi cho khủng hoảng. Khi nào lãi suất liên ngân hàng tại Mỹ vượt quá 5% thì ta có thể thấy hiện tượng vỡ bờ.
Hỏi: Nhưng thưa ông, ở trên, ông có nói đến việc nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới đang trù tính giảm bớt tỷ lệ của tiền Mỹ trong khối dự trữ ngoại tệ của họ. Điều đó sẽ ảnh hưởng ra sao đến việc hạ cánh an toàn hay tan tành tại Trung Quốc"
-- Chúng ta đang tiếp cận một vấn đề phức tạp mà lãnh đạo và truyền thông Việt Nam có khi không nhìn ra, hoặc diễn dịch theo cảm quan của mình, là thế giới tẩy chay tiền Mỹ, mà rút kết luận sai lầm. Hoa Kỳ bị hai loại khiếm hụt song hành là nhập siêu khoảng 650 tỷ và bội chi ngân sách hơn 500 tỷ Mỹ kim một năm. Điều đó khiến tiền Mỹ đã bị mất giá và sẽ còn bị mất giá. Nhưng, đồng Mỹ kim lại là một ngoại tệ chính của thế giới và nhiều nước tàng trữ tài sản của mình dưới dạng đô la thay vì vàng hay đồng Euro của Âu châu, hoặc đồng Yen của Nhật hay đồng bảng Anh, Phật lăng Thụy Sĩ. Khi đô la mất giá thì tài sản mình bị hao hụt, các nước sợ lỗ nên đổi dần qua ngoại tệ khác. Vì vậy tỷ trọng của Mỹ kim trong khối dự trữ ngoại tệ các nước đang giảm dần, từ 66% trong bốn năm qua, hoặc 67% cuối năm 2001 nay chỉ còn khoảng 64%. Trong bốn tháng cuối năm ngoái, người ta đã thăm dò ý kiến của 65 nhân vật điều hành các ngân hàng nhà nước và được biết là 70% dự tính sẽ còn bán Mỹ kim để mua ngoại tệ khác hầu khỏi bị hao hụt tài sản. Hiện tượng này không đáng ngạc nhiên mà chỉ báo hiệu là Mỹ kim sẽ còn sụt giá và các nước có ác cảm với Hoa Kỳ sẽ chỉ ồn ào nói đến thế lực suy sụp của đô la.
Hỏi: Nhưng, điều ấy ảnh hưởng gì tới Trung Quốc hay Đông Á nói chung"
-- Có ảnh hưởng rất lớn vì điều mà chúng ta từng nói nhiều lần trên diễn đàn này là thế phân công lao động thiếu lành mạnh ở hai bờ Thái bình dương. Hoa Kỳ thì tiết kiệm ít mà tiêu xài nhiều nên là đầu máy nhập khẩu cho kinh tế Á châu, trong khi các nước Đông Á thì xài ít tiết kiệm nhiều, cứ thắt lưng buộc bụng để xuất khẩu qua Mỹ. Được thặng dư mậu dịch với Hoa Kỳ, tức là thu rất nhiều Mỹ kim về nhà, họ làm gì với đồng bạc ấy" Họ tái đầu tư vào Mỹ, như mua cổ phiếu hay trái phiếu Hoa Kỳ. Nôm na là bán hàng cho Mỹ lấy tiền về đem qua cho Mỹ vay lại. Các khoản cho vay ấy được bút toán trong dự trữ tài sản ngoại tệ là tiền Mỹ. Trung Quốc là nước đứng đầu trong địa hạt ấy qua chiến lược xuất khẩu tối đa vào Mỹ với giá tối thiểu. Để giữ lợi thế cạnh tranh, tiền Mỹ sụt chừng nào thì đồng nhân dân tệ của họ sụt theo chừng ấy hầu hàng hoá Trung Quốc vẫn cứ rẻ thối. Nhìn trên bề mặt thì có vẻ là hay vì Trung Quốc nay đang là một chủ nợ của Mỹ.
Hỏi: Nhưng khi Mỹ kim mất giá thì chủ nợ mất tiền, có phải như vậy không"
-- Đúng như vậy và nếu sợ tiền Mỹ sụt giá mà bán tháo ra để mua ngoại tệ khác, như các ngân hàng trung ương dự tính, thì tiền Mỹ càng sụt mau là điều ta còn thấy trong năm tới. Trong khi ấy, kinh tế Trung Quốc lại đang bị nguy cơ khủng hoảng, lãi suất Mỹ lại cứ tiếp tục tăng và kinh tế Mỹ lại có những cơ hội đầu tư hấp dẫn hơn Hoa Lục, tư bản sẽ rời Hoa Lục chảy ngược về Mỹ và xuất khẩu của Trung Quốc sẽ sa sút. Ngần ấy biến động sẽ nuôi dưỡng nhau trong một vòng luẩn quẩn gọi là biện chứng và doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc sẽ sụp đổ, kéo theo hệ thống ngân hàng. Chúng ta có thể thấy điều này từ giữa năm nay trở đi, qua đến năm tới, khủng hoảng kinh tế có thể lan vào chính trị....

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.