Hôm nay,  

Trung Quốc Hạ Cánh

01/02/200500:00:00(Xem: 15339)
Cục Thống kê Trung Quốc cho biết đà tăng trưởng Hoa Lục tăng bất ngờ trong quý bốn, quy ra toàn năm là 9,5%, tức kinh tế Trung Quốc chưa giảm tốc độ tăng trưởng như dự tính. Hậu quả ra sao"
Diễn đàn Kinh tế Đài RFA tìm hiểu về sự kiện ấy cùng những hậu quả có thể xảy ra trong thời gian tới trong cuộc phỏng vấn sau đây với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện.
Hỏi: Thưa ông, trên diễn đàn này, ông nhiều lần dự báo Trung Quốc sẽ khó hãm đà tăng trưởng và kinh tế nóng máy sẽ gặp rủi ro hạ cánh nặng nề, thậm chí hạ cánh tan tành. Hôm Thứ Ba 25 tuần qua, Cục Thống kê Quốc gia của Trung Quốc cho biết là tốc độ tăng trưởng trong quý bốn đã gia tăng bất ngờ, quy ra toàn năm là 9,5% so với 9,1% của quý ba. Đây có phải là dấu hiệu về nguy cơ hạ cánh nặng nề hay chưa"
-- Thưa vâng, tuần qua khi ta trao đổi về những nguyên do của trận đói năm Ất Dậu 1945 tại Việt Nam thì Cục Thống kê Trung Quốc báo cáo là tốc độ tăng trưởng sản xuất của quý bốn (QIV) không giảm mà còn lên tới 9,5% quy ra toàn năm. Điều đó có nghĩa là các biện pháp hạ nhiệt kinh tế ban hành từ cuối tháng Tư năm ngoái đã không đạt yêu cầu. Ngoài tin ấy thì ta còn nên để ý đến một biến cố khác là hôm 24, Ngân hàng Hoàng gia Scotland đã công bố kết quả thăm dò ý kiến của giới chỉ huy 65 ngân hàng trung ương trên thế giới, theo đó có tới 70% các ngân hàng trung ương dự tính sẽ giảm tỷ lệ tồn trữ Mỹ kim trong khối dự trữ ngoại tệ của họ. Biến cố thứ hai này sở dĩ đáng chú ý vì sẽ tác động vào kinh tế Trung Quốc, khiến nguy cơ hạ cánh tan tành sẽ dễ xảy ra trong năm nay, và từ Hoa Lục sẽ lan ra các nước Đông Á trong năm tới. Trong khi dịch cúm gia cầm đang lây lan tại Việt Nam với tốc độ đáng ngại, thì hai biến cố kinh tế kể trên có thể báo hiệu nhiều sóng gió cho Việt Nam trong năm Ất Dậu này.
Hỏi: Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu những sự kiện ấy. Trước hết là về đà tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc và khả năng kềm hãm của giới lãnh đạo Bắc Kinh. Câu hỏi đầu tiên thưa ông, vì sao sản xuất tăng mạnh lại là điều đáng ngại" Bình thường thì ai cũng muốn ăn nên làm ra, khi sản xuất gia tăng thì người ta phải mừng chứ sao lại lo ngại"
-- Thưa đúng vậy, nhưng nói chung thì khi kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao như thế, vật giá có thể tăng mạnh hơn và sẽ gây nguy cơ lạm phát. Dùng khái niệm vật lý, ta so sánh điều ấy với hiện tượng nóng máy và có nhu cầu phải “hạ nhiệt” để giữ được một tốc độ hài hòa giữa tăng trưởng và vật giá. Riêng về hoàn cảnh Trung Quốc thì ta chú ý đến hai vấn đề. Thứ nhất, lạm phát trong một xứ có khả năng điều tiết kinh tế thấp thì dễ gây khủng hoảng và ở một xứ độc tài thì dễ dẫn tới động loạn chính trị, đó là một nguyên do gây ra vụ thảm sát Thiên an môn năm 1989 mà ta nhắc đến hai tuần trước khi cựu Tổng bí thư Triệu Tử Dương tạ thế. Thứ hai và nghiêm trọng không kém là phẩm chất tăng trưởng của Trung Quốc thực ra rất kém. Ta đang gặp hiện tượng gọi là bong bóng đầu tư trong rất nhiều lãnh vực. Trái bóng được thổi phồng không cơ sở thì có ngày sẽ vỡ, khủng hoảng sẽ bùng nổ. Nhật Bản từng bị hiện tượng ấy từ năm 1990 và kinh tế suy sụp qua bốn đợt suy trầm giờ này chưa thoát khỏi. Hoa Kỳ cũng bị hiện tượng bể bóng đầu tư như thế trong năm 2000 nên năm sau mới bị suy trầm.
Hỏi: Hai xứ ấy không bị khủng hoảng chính trị, vì sao hoàn cảnh Trung Quốc lại khác"
-- Chủ yếu là do chủ trương giới lãnh đạo Hoa Lục gọi là “kinh tế thị trường theo màu sắc Trung Quốc”, hay nói theo màu sắc Hà Nội, là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đó là kinh tế thị trường bị hạn chế bởi một đảng độc tài và một khu vực nhà nước mục nát, với doanh nghiệp nhà nước được ngân hàng cũng của nhà nước tài trợ bằng thủ thuật ngân sách hay tiết kiệm của dân để khu vực nhà nước giữ vị trí thống trị. Dân Hoa Lục chắt bóp để dành và ký thác đến 30% lợi tức của họ vào các ngân hàng quốc doanh. Các ngân hàng này làm chủ đến 90% tổng số tín dụng và lại thực tế cho vay theo diện chính sách, để tài trợ doanh nghiệp nhà nước với lãi suất hạ, điều kiện ưu đãi, bất kể tới rủi ro tín dụng. Mà doanh nghiệp nhà nước thì kinh doanh kém, lỗ lã kinh niên và để lại núi nợ khó đòi hoặc sẽ mất. Thực tế thì nhà nước lấy tiền dân đi trợ cấp doanh nghiệp của mình mà khi có tiền dễ dàng như vậy, các doanh nghiệp nhà nước phóng tay đầu tư bất kể lời lãi hay rủi ro, trái bóng đầu tư vì vậy dễ căng phồng và sẽ bể. Khi hệ thống ấy sụp đổ thì dân chúng mất tiền. Chưa nói đến 900 triệu nông dân bất mãn, có 250 triệu người đang gặp nguy cơ phá sản như vậy, thì làm gì khủng hoảng chẳng dễ bùng nổ"
Hỏi: Nhưng khi gặp nguy cơ ấy, chính quyền Bắc Kinh tất nhiên phải có biện pháp chứ"
-- Nhưng quá thô và quá trễ. Đầu năm ngoái, người ta đã nói tới nguy cơ nóng máy kinh tế, qua tháng Ba, Bắc Kinh mới đưa ra biện pháp là đồng loạt đông lạnh hệ thống tín dụng, tức là cấm cho vay tiền trong nhiều tháng liền. Biện pháp thô thiển ấy thiếu công hiệu và lượng đầu tư tiếp tục gia tăng và lại gia tăng trong các khu vực kém hiệu năng, là hoàn cảnh hôm nay. Đã vậy, chính quyền vẫn chưa có phản ứng dứt khoát và còn có xu hướng nghe ngóng chờ đợi, trong khi giới đầu tư quốc tế bắt đầu chột dạ nghi ngờ sự kỳ diệu kinh tế của xứ này. Lý do chậm lụt và thiếu tinh tế trong cách đối phó thì kể ra rất nhiều...

Hỏi: Vâng, xin ông giải thích cho vì sao lại có khả năng ứng phó kém cỏi như vậy.
-- Về nguyên tắc, khi gặp nguy cơ nóng máy như vậy, các chính quyền nói chung đều phải nâng lãi suất ngân hàng hay gia tăng mức dự trữ pháp định của ngân hàng để giảm bớt khối lượng tín dụng bơm vào kinh tế. Đồng thời, người ta cũng phải có biện pháp hạn chế đầu tư trong những ngành đang bị quá tải, thí dụ tại Trung Quốc là gia cư địa ốc, xi măng, sắt thép và xe hơi chẳng hạn. Nhưng, vì hệ thống ngân hàng lạc hậu và bộ máy quản lý thô sơ, Trung Quốc không thể điều tiết tín dụng bằng loại khí cụ định phẩm như thế, tức là bằng cách điều chỉnh lãi suất hay dự trữ pháp định mà thiên về giải pháp hành chính. Nhưng mỗi doanh nghiệp nhà nước lại là một thế lực trì hoãn hay tránh né các biện pháp hành chính này. Đã vậy, bên ngoài Hoa Lục, kinh tế thế giới cũng có xoay chuyển và hậu quả sẽ là sức ép rất lớn dội vào trong. Cụ thể là lãi suất tại Hoa Kỳ đã và còn tăng nên sẽ ảnh hưởng đến kinh tế Trung Quốc từ giữa năm nay trở đi.
Hỏi: Và như vậy, chúng ta đang nói đến hiệu ứng của đồng đô la Mỹ phải không"
-- Thưa vâng. Hoa Kỳ đã hạ lãi suất đến mức cực thấp trong nhiều năm liền để đối phó với suy trầm kinh tế sau nạn bể bóng đầu tư năm 2000 và khủng bố năm 2001. Nay kinh tế đã hồi phục và tăng trưởng mạnh nên từ tháng Sáu năm ngoái, hệ thống ngân hàng trung ương Mỹ đã nâng lãi suất và sẽ còn nâng tiếp trong suốt năm nay. Khi lãi suất Mỹ tăng thì tư bản từ các nơi khác sẽ lại chảy về Mỹ vì có cơ hội kiếm lời cao hơn, vì tín dụng cao giá hơn. Giới đầu tư quốc tế đang hoài nghi về thành quả sinh lời tại Hoa Lục sẽ rút tiền đem về Mỹ cùng với nạn tẩu tán tài sản và chuyên ngân lậu của quan chức Trung Quốc; hai yếu tố ấy sẽ là cái duyên của một cái nhân có sẵn và châm ngòi cho khủng hoảng. Khi nào lãi suất liên ngân hàng tại Mỹ vượt quá 5% thì ta có thể thấy hiện tượng vỡ bờ.
Hỏi: Nhưng thưa ông, ở trên, ông có nói đến việc nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới đang trù tính giảm bớt tỷ lệ của tiền Mỹ trong khối dự trữ ngoại tệ của họ. Điều đó sẽ ảnh hưởng ra sao đến việc hạ cánh an toàn hay tan tành tại Trung Quốc"
-- Chúng ta đang tiếp cận một vấn đề phức tạp mà lãnh đạo và truyền thông Việt Nam có khi không nhìn ra, hoặc diễn dịch theo cảm quan của mình, là thế giới tẩy chay tiền Mỹ, mà rút kết luận sai lầm. Hoa Kỳ bị hai loại khiếm hụt song hành là nhập siêu khoảng 650 tỷ và bội chi ngân sách hơn 500 tỷ Mỹ kim một năm. Điều đó khiến tiền Mỹ đã bị mất giá và sẽ còn bị mất giá. Nhưng, đồng Mỹ kim lại là một ngoại tệ chính của thế giới và nhiều nước tàng trữ tài sản của mình dưới dạng đô la thay vì vàng hay đồng Euro của Âu châu, hoặc đồng Yen của Nhật hay đồng bảng Anh, Phật lăng Thụy Sĩ. Khi đô la mất giá thì tài sản mình bị hao hụt, các nước sợ lỗ nên đổi dần qua ngoại tệ khác. Vì vậy tỷ trọng của Mỹ kim trong khối dự trữ ngoại tệ các nước đang giảm dần, từ 66% trong bốn năm qua, hoặc 67% cuối năm 2001 nay chỉ còn khoảng 64%. Trong bốn tháng cuối năm ngoái, người ta đã thăm dò ý kiến của 65 nhân vật điều hành các ngân hàng nhà nước và được biết là 70% dự tính sẽ còn bán Mỹ kim để mua ngoại tệ khác hầu khỏi bị hao hụt tài sản. Hiện tượng này không đáng ngạc nhiên mà chỉ báo hiệu là Mỹ kim sẽ còn sụt giá và các nước có ác cảm với Hoa Kỳ sẽ chỉ ồn ào nói đến thế lực suy sụp của đô la.
Hỏi: Nhưng, điều ấy ảnh hưởng gì tới Trung Quốc hay Đông Á nói chung"
-- Có ảnh hưởng rất lớn vì điều mà chúng ta từng nói nhiều lần trên diễn đàn này là thế phân công lao động thiếu lành mạnh ở hai bờ Thái bình dương. Hoa Kỳ thì tiết kiệm ít mà tiêu xài nhiều nên là đầu máy nhập khẩu cho kinh tế Á châu, trong khi các nước Đông Á thì xài ít tiết kiệm nhiều, cứ thắt lưng buộc bụng để xuất khẩu qua Mỹ. Được thặng dư mậu dịch với Hoa Kỳ, tức là thu rất nhiều Mỹ kim về nhà, họ làm gì với đồng bạc ấy" Họ tái đầu tư vào Mỹ, như mua cổ phiếu hay trái phiếu Hoa Kỳ. Nôm na là bán hàng cho Mỹ lấy tiền về đem qua cho Mỹ vay lại. Các khoản cho vay ấy được bút toán trong dự trữ tài sản ngoại tệ là tiền Mỹ. Trung Quốc là nước đứng đầu trong địa hạt ấy qua chiến lược xuất khẩu tối đa vào Mỹ với giá tối thiểu. Để giữ lợi thế cạnh tranh, tiền Mỹ sụt chừng nào thì đồng nhân dân tệ của họ sụt theo chừng ấy hầu hàng hoá Trung Quốc vẫn cứ rẻ thối. Nhìn trên bề mặt thì có vẻ là hay vì Trung Quốc nay đang là một chủ nợ của Mỹ.
Hỏi: Nhưng khi Mỹ kim mất giá thì chủ nợ mất tiền, có phải như vậy không"
-- Đúng như vậy và nếu sợ tiền Mỹ sụt giá mà bán tháo ra để mua ngoại tệ khác, như các ngân hàng trung ương dự tính, thì tiền Mỹ càng sụt mau là điều ta còn thấy trong năm tới. Trong khi ấy, kinh tế Trung Quốc lại đang bị nguy cơ khủng hoảng, lãi suất Mỹ lại cứ tiếp tục tăng và kinh tế Mỹ lại có những cơ hội đầu tư hấp dẫn hơn Hoa Lục, tư bản sẽ rời Hoa Lục chảy ngược về Mỹ và xuất khẩu của Trung Quốc sẽ sa sút. Ngần ấy biến động sẽ nuôi dưỡng nhau trong một vòng luẩn quẩn gọi là biện chứng và doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc sẽ sụp đổ, kéo theo hệ thống ngân hàng. Chúng ta có thể thấy điều này từ giữa năm nay trở đi, qua đến năm tới, khủng hoảng kinh tế có thể lan vào chính trị....

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.