Hôm nay,  

Nội Chiến Tại Iraq

02/12/200600:00:00(Xem: 12009)

Nội Chiến Tại Iraq

Khi nói rằng Iraq đang bị nội chiến, người ta là lầm lẫn tới hai lần. Về ý nghĩa và về ngụ ý…

Tuần qua, dư luận chống Bush được tăng viện với lời phát biểu của Tướng Colin Powell. Viên Ngoại trưởng cũ của ông Bush nói rằng Iraq bị nội chiến về thực tế, và lời phát biểu của ông lập tức bị chính quyền Bush phủ nhận.

Đối với công luận, cuộc tranh luận về việc "Iraq có bị nội chiến hay không hàm ý" là tình hình đã nguy ngập vô phương cứu chữa - ngược với lý luận của chính quyền Bush - và vì là nội chiến giữa các phe Iraq với nhau, nước Mỹ chẳng nên can thiệp làm lính Mỹ mất mạng. Chi bằng nên rút. Nhanh chậm, nhiều ít và có thời hạn hay không là chuyện sẽ còn thảo luận.

Điều ấy rất sai, trên cả hai mặt.

Sau khi lật đổ Tổng thống Diệm, thì đầu năm 1965, Hoa Kỳ đã xấn xổ đổ quân vào Việt Nam trước sự bàng hoàng của Chính phủ Phan Huy Quát tại Việt Nam lẫn Toà Đại sứ Mỹ tại Saigon và của cả Nội các Lyndon Johnson tại Hoa Kỳ.

Từ đấy, cuộc chiến đã được Mỹ hoá, trước tiên là vì tiến hành theo phương cách của Mỹ. Thay vì yểm trợ Việt Nam mà thôi, như Chính quyền Ngô Đình Diện yêu cầu, người Mỹ đã trực tiếp điều khiển cuộc chiến. Lý do là để bảo vệ tiền đồn của thế giới tự do, lý cớ là vì các chính quyền nối tiếp sau khi ông Diệm bị sát hại đã liên tục đảo chánh nhau nên không thể ngăn chặn được cuộc xâm lăng của miền Bắc để bảo vệ tiền đồn ấy.

Ban đầu, việc can thiệp được sự ủng hộ đông đảo của các phần tử ưu tú của nước Mỹ, của đảng Dân chủ đứng sau ông Johnson và cả đảng Cộng hoà, vốn có lập trường chống cộng rất dứt khoát.

Thế rồi khi cuộc chiến không ngã ngũ theo những dự tính của Hoa Kỳ, trí thức, truyền thông và các chính trị gia Mỹ đổi giọng: Đây là một cuộc nội chiến giữa hai miền Nam-Bắc của Việt Nam, chẳng có lý do gì để Hoa Kỳ tiếp tục can thiệp. Lý luận ấy mở màn cho việc triệt thoái, được che dấu sau hỏa mù hoà đàm và kết thúc thành chuyện tháo chạy khi Tổng thống Richard Nixon bị tê liệt và phải từ chức vì vụ Watergate.

Ngày hôm nay, sự việc tình hình Iraq được trình bày thành "nội chiến" cũng có tác dụng tương tự, một lý cớ tháo chạy. Hoặc giỏi lắm thì tháo lui chầm chậm, nhưng không chạy.

Cuộc chiến Việt Nam không là một cuộc nội chiến.

Chính quyền miền Nam không tham gia chiến tranh để làm thay đổi thể chế chính trị tại miền Bắc mà chỉ để chống đỡ. Nếu hoà thì coi như đã thắng vì vậy tất yếu là thua. Ngược lại, được sự yểm trợ của khối cộng sản, Chính quyền miền Bắc muốn đánh sập chế độ chính trị tại Sàigòn để đưa cả hai miền vào xã hội chủ nghĩa. Với bản chất ấy, cuộc chiến Việt Nam không là nội chiến giữa hai miền mà bị lồng trong việc đối đầu có võ trang giữa hai hình thái sinh hoạt cộng sản và tự do.

Nếu nhìn cho đúng thì ngay cả cuộc Nội chiến tại Hoa Kỳ cũng không hẳn là "nội chiến". Miền Nam thiên về nông nghiệp và chủ trương duy trì chế độ nô lệ cũng không đòi tiêu diệt miền Bắc thiên về công nghiệp để từ đó lãnh đạo cả nước theo quan điểm của mình. Họ muốn được để nguyên, nếu không được thì ly khai ra khỏi chế độ cai trị của miền Bắc, y như Hoa Kỳ đã ly khai và giành thế độc lập với chế độ cai trị của Đế quốc Anh. 

Khi Hoa Kỳ khai mở chiến dịch Iraq, Chính quyền Bush có thể chỉ muốn lật đổ một chế độ hung đồ nhất trong thế giới Hồi giáo hầu các nước Hồi giáo khác lấy đó làm gương để không dung chứa các xu hướng Hồi giáo cực đoan, nhân danh Thánh chiến mà khuynh đảo khối Hồi giáo và lật đổ các chế độ Hồi giáo ôn hoà để lập ra một Đế quốc Hồi giáo theo giáo luật cực đoan nhất của đạo Hồi. Việc lật đổ Saddam Hussein hoàn thành quá mau khiến Chính quyền Bush say đòn mà không nhìn ra những lực ly tâm tiềm ẩn bên trong Iraq và vai trò khuấy động của Iran, một cường quốc đối thủ của Iraq.

Việc bình định Iraq từ đấy tuột xích dần vì một chuỗi sai lầm khác.

Dựa vào sự hợp tác với phe Shia đa số, nạn nhân của chế độ Saddam Hussein thuộc phe Sunni, Hoa Kỳ muốn vừa đánh vừa nhử các lực lượng Sunni chống Mỹ.

Các lực lượng này gồm có tàn dư của chế độ Saddam và các nhóm dân quân ái quốc không chấp nhận sự can thiệp của Mỹ. Lý do của chiến lược vừa đánh vừa đàm ấy gồm hai mặt. Thứ nhất là cô lập các nhóm khủng bố Thánh chiến (và al-Qaeda) mai phục trong cộng đồng Sunni và thứ hai kêu gọi dân Sunni tham gia chính quyền liên hiệp với hai phe còn lại là Shia và Kurd.

Mục tiêu ấy phần nào thành công khi dân Sunni tham gia bầu cử ngày một đông hơn trong ba cuộc bầu cử năm 2005 và cao điểm là giữa năm nay, khi các lãnh tụ Sunni "hy sinh" thủ lãnh al-Qaeda tại Iraq là Abu Musab al-Zarqawi và chấp nhận hợp tác với chính quyền của Thủ tướng Nouri al-Malaki.

Đấy là lúc đáng lẽ Chính quyền Bush phải nhân đà thắng lợi cho phép Tổng trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld về hưu theo lời yêu cầu của ông ta. Tổng thống Bush không làm như vậy là điều sai lầm và càng sai lầm nữa khi lập tức cách chức ông Rumsfeld ngay sau cuộc bầu cử tệ hại cho đảng Cộng hoà và tư thế của ông. Ông mặc nhiên chứng tỏ là mình hết quyền chủ động khi tình hình đang đến hồi nguy ngập nhất.

Nguy ngập vì Chính quyền Bush không nhìn ra rằng ngay trên cao điểm tháng Sáu, các nhóm khủng bố trà trộn trong cộng đồng Sunni đã châm ngòi cho mâu thuẫn sinh tử giữa hai phe Sunni và Shia. Kế tiếp, họ cũng không nhìn ra là, đang bị Iran lũng đoạn mạnh bên trong, các lãnh tụ Shia cũng không hài lòng với việc Hoa Kỳ hợp tác khắng khít hơn với phe Sunni và muốn giành thêm quyền lợi kinh tế, chủ yếu là dầu khí, cho dân Sunni. Và quan trọng hơn cả, họ không nhìn thấy là sự lúng túng của Hoa Kỳ tại Iraq là một nguồn cổ võ, một cơ hội bằng vàng cho các lực lượng hay quốc gia Hồi giáo chống Mỹ. Vì vậy lực lượng Hezbollah tại Lebanon lập tức khiêu khích Israel và phá hoại nền dân chủ non yếu tại Beirut, với sũ yểm trợ ngầm của Syria và Iran.

Kết quả là xung đột và bạo động bùng nổ liên tục giữa hai phe Sunni và Shia, với sự tiếp sức của khủng bố al-Qaeda trong phe Sunni và của các nhóm võ trang do Iran tiếp vận bên phe Shia và Lebanon đang mấp mé bên bờ khủng hoảng.

Tình hình Iraq vì vậy không đơn giản là nội chiến giữa hai lực lượng võ trang cùng chung một tổ quốc hay lịch sử là Sunni và Shia để giành quyền lãnh đạo cả nước. Nó là chiến tranh phá hoại của khủng bố Thánh chiến và al-Qaeda, chiến tranh khuynh đảo của Iran để khống chế Iraq, lồng trong những mâu thuẫn về tôn giáo giữa hai hệ phái Sunni và Shia. Và bên trong phe Shia, nhiều giáo phái võ trang cũng không muốn tự giải giới để sát nhập vào bộ máy an ninh và quân sự của chính quyền al-Malaki.

Nói cách khác, đây là vùng oanh kích tự do của bất cứ ai có võ khí. Nó kinh hoàng, toàn diện và hỗn loạn hơn cảnh nội chiến giữa hai lực lượng võ trang đại diện cho hai hình thái cai trị khác nhau của một quốc gia.

Khi bảo rằng Iraq bị nội chiến để có lý cớ rút lui trong danh dự, giới lãnh đạo chính trị và truyền thông Mỹ chỉ tái diễn tiền lệ nhục nhã của nước Mỹ tại Việt Nam.

Nhưng lần này, Hoa Kỳ không thể rút được vì sẽ để lại một thùng thuốc súng trong tầm tay al-Qaeda, các nhóm Sunni và Shia cực đoan nhất và để lại một thao trường cho Iran lũng đoạn và khống chế toàn khu vực Trung Đông, từ Địa Trung Hải đến Afghanistan. Lebanon sẽ bị nội chiến theo đúng nghĩa và Pakistan sẽ bị đảo chánh liên tục, các chế độ ôn hoà như Saudi Arabia hay Jordan và Egyp sẽ phải hà hơi tiếp sức cho phe Sunni tại Iraq để chặn phe Shia do Iran tiếp viện.

Nghĩa là vùng oanh kích tự do của mọi phe phái sẽ từ Iraq lan rộng khắp nơi và đe dọa sự sống còn của một nước dân chủ duy nhất trong vùng là Israel. So với mối hoạ khi hy sinh miền Nam Việt Nam, lần này, Hoa Kỳ sẽ gặp những thách đố chiến lược. Và sinh tử.

Vì mầm đại chiến có thể bùng nổ từ đó!

Chúng ta phải lòng vòng những chuyện gần xa về ngôn từ và lịch sử để thấy ra sự vô tâm của nhiều người, kể cả Colin Powell, khi giáng một đòn chính trị lên lưng ông Bush. Tháng Giêng năm 2009, ông Bush sẽ về hưu. Từ nay đến đó, các tay súng tại Trung Đông lại rất bận rộn!

Nói chuyện nội chiến Iraq là lạc quan tếu!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.