Hôm nay,  

Lạm Phát Chưa Lui

27/08/200800:00:00(Xem: 9282)
...và đồng bạc Việt Nam sẽ còn mất giá rất nặng...

Trong tháng Tám, lạm phát tại Việt Nam vẫn tăng và lên tới 28,3%, mức cao nhất từ 17 năm nay. Riêng lương thực và thực phẩm thì tăng 44% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là mấy con số ước lượng vừa được Tổng cực Thống kê thông báo hôm Thứ Hai vừa qua. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu về mối nguy đó của Việt Nam khi nhiều người cũng lo rằng lãi suất gia tăng sẽ cản trở sản xuất khiến người dân càng thêm khốn đốn. Cuộc trao đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về tiết mục chuyên đề này sẽ do Việt Long thực hiện sau đây hầu quý thính giả...

Hỏi: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, cách đây hai tuần, ông có trình bày một diễn biến mới của thế giới là hiện tượng thương phẩm, nhất là dầu khí, đã hết tăng giá mà còn giảm. Nhưng trong chương trình tuần trước, ông vẫn cảnh báo nguy cơ khủng hoảng vì vật giá gia tăng tại Việt Nam. Hôm thứ Hai vừa qua, Tổng cục Thống kê của Việt Nam vừa công bố dữ kiện kinh tế tháng Tám, theo đó, lạm phát vẫn tăng hơn 28%. Xin đề nghị là trong chương trình kỳ này ta sẽ lại tìm hiểu về mối nguy lạm phát đó, với mặt trái của vấn đề là nếu nâng lãi suất ngân hàng để ngăn chặn lạm phát thì lại gây cản trở cho sản xuất vì phải vay tiền với lại suất quá đắt. Ông nghĩ sao về bài toán lưỡng nan ấy"

- Một cách cụ thể thì trong ba tháng qua, lạm phát chỉ có tăng chứ không giảm. Tháng Năm thì tăng 25,2%, tháng Sáu tăng 26,8% và qua tháng Bẩy thì tăng 27%. Khi thấy áp lực vật giá có vẻ giảm trong tháng Bảy - vì chỉ tăng từ 26,8 lên 27% - nhiều người lạc quan nghĩ rằng lạm phát có thể sẽ lui nên Việt Nam nên giảm lãi suất ngân hàng. Sự thật thì lạm phát tháng Tám đã lên tới 28,3%, một mức gia tăng cao nhất kể từ 17 năm nay, và hiện đang là cao nhất Á châu.

- Đã vậy, Việt Nam tiếp tục bị nhập siêu nặng, tức là nhập nhiều hơn xuất khẩu, với số thiếu hụt trong tám tháng đầu năm lên tới 16 tỷ, so với mức thiếu hụt 14 tỷ của cả năm ngoái. Vấn đề ấy tiếp tục đẩy giá đồng bạc xuống, trong bối cảnh đảo chiều là Mỹ kim hết sụt mà còn tăng giá, khiến tỷ giá hay hối suất đồng bạc không thể duy trì ở mức hiện tại. Lãi suất và hối suất vì vậy là hai vấn đề rất ngặt nghèo cho Việt Nam.

Hỏi: Đa số các chuyên gia nước ngoài đều khuyên Việt Nam cần nâng cao lãi suất để kiềm chế lạm phát, lời khuyên ấy có đúng không, khi mà lãi suất gia tăng khiến gánh nặng tài chính sẽ cản trở sản xuất vì nhiều người không thể vay tiền với mức lãi cắt cổ"

- Trước tiên, chúng ta cần biết rằng không phải mọi lời khuyên của các chuyên gia nước ngoài đều là đúng cả vì mỗi người lại nhìn vấn đề từ một giác độ và hoàn cảnh trách nhiệm khác nhau. Nhưng, riêng về lãnh vực tín dụng thì tăng hoặc ít nhất không hạ lãi suất lúc này là việc cần thiết.

- Trong một kỳ trước, ta có cảnh báo rằng nhiều quốc gia đang phân vân giữa hai ưu tiên là 1) hoặc chặn đứng lạm phát bằng cách gia tăng lãi suất ngân hàng và nâng cao định mức dự trữ để tiết giảm lượng tiền lưu thông trong kinh tế, hoặc 2) hạ lãi suất để hỗ trợ sản xuất hầu duy trì một mức tăng trưởng đủ cao để khỏi bị thất nghiệp và động loạn xã hội. Việt Nam cũng gặp vấn đề ấy và ngả theo xu hướng duy trì mức tăng trưởng nên ngần ngại tăng lãi suất và vẫn bị nguy cơ lạm phát. Điều ấy quả nhiên đang xảy ra, với mức độ còn cao hơn kỳ trước.

Hỏi: Xin đề nghị là ông giải thích thêm cho rõ vì sao Việt Nam không nên hạ lãi suất như nhiều người yêu cầu. Mối nguy lạm phát có nặng đến nỗi mình phải trả giá với lãi suất thực tế là 25% như ông trình bày tuần trước không"

- Ta hãy nhìn lại chỉ số vật giá. Tháng Năm thì tăng 25,2% so với tháng Năm của năm ngoái. Tháng Sáu thì tăng 26,8%, tháng Bảy tăng 27% rồi tháng Tám tăng 28,3% so với tháng Tám năm ngoái. Nếu xét vào chi tiết trong thời hạn ngắn hơn thì lạm phát hàng tháng vẫn tăng nhưng nhẹ hơn, thí dụ như tăng 3,9% trong tháng Năm, rồi 1,1% trong tháng Sáu. Vì thấy lạm phát hàng tháng có vẻ giảm, thực ra chỉ là tăng nhẹ hơn, và dầu thô cũng đang hạ giá trên thế giới, từ 147 đồng đã giảm được hơn 30 đồng một thùng, nên Việt Nam đã đảo ngược chế độ trợ giá xăng dầu. Vừa tăng giá xăng dầu bình quân từ 14 đến 37% vào ngày 21 tháng Bảy thì lại hạ bình quân là 5% vào ngày 14 tháng Tám vừa qua. Nhưng quyết định tăng giá xăng dầu vào tháng Bảy sẽ ảnh hưởng đến vật giá trong tháng Tám là điều người ta sẽ còn thấy rõ hơn trong những ngày tới.

- Tôi ngần ngại khi phải kể ra hàng chục con số nhức đầu như vậy cho thính giả, nhưng mình cần nhắc lại khoảng cách thời gian của từng quyết định kinh tế để từ đó thấy rõ sự lụp chụp chạy theo thị trường bằng các quyết định hành chánh và mỗi quyết định ấy lại ảnh hưởng đến vật giá của tháng sau. Trong bối cảnh đó, mình mới trở lại vấn đề lãi suất mà ông hỏi.

Hỏi: Muốn thấy rõ vấn đề ấy, có lẽ ông phải đề nghị ông phân tích và giải thích bàng tổng kết tài sản của các ngân hàng tại Việt Nam.

- Nếu nhìn vào bảng tổng kết tài sản của cả hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, ta thấy rằng các ngân hàng đang bị sức ép rất nặng từ cả hai đầu. Thứ nhất là sức ép của yêu cầu tiết giảm tín dụng do lỡ dại bơm ra quá nhiều tiền từ năm ngoái nên lãi suất liên ngân hàng đã tăng bình quân gấp đôi, từ khoảng 8-9% lên tới gần 20%, nên ngân hàng bị cạn kiệt thanh khoản, thiếu tiền cho vay và cần ráo riết đòi lại nợ. Vì sức ép tín dụng ấy, ngân hàng trung ương tại Việt Nam mới cố duy trì mức lãi suất trần ở khoảng 14% và nhiều người nói tới nhu cầu hạ lãi suất, hoặc đả kích các chuyên gia nước ngoài khi họ khuyến cáo phải tăng lãi suất.

- Nhưng, nếu nhìn rộng ra ngoài thì mình còn phải thấy sức ép thứ hai. Lạm phát cao và lãi suất hạ, dưới mức lạm phát, tức là lãi suất thuần âm, khiến ngân hàng không huy động được ký thác. Trong khung cảnh lạm phát, người ta thích làm khách nợ, tức là đi vay tiền nhờ lãi suất thấp, hơn là làm chủ nợ, tức là làm trương chủ ký thác tiền bạc của mình vào ngân hàng vì không có lời. Nếu mình xét kỹ bảng kết số tài sản của hệ thống ngân hàng Việt Nam và so sánh tỷ lệ tín dụng với tỷ lệ ký thác thì sẽ thấy khối tín dụng vẫn tăng mạnh hơn khối ký thác, tăng từ 103% vào đầu năm nay giờ đây đã vượt 160%, tính theo con số tháng Bảy.

- Tôi phải nói tới mấy con số rắc rối ấy để mình cùng thấy rằng các ngân hàng đang bị ngộp và nhiều cơ sở sẽ phá sản hoặc phải bị sát nhập và rằng việc hạ lãi suất sẽ càng khiến ngân hàng khó huy động được ký thác. Chưa kể là việc hạ lãi suất sẽ không trực tiếp toả rộng ảnh hưởng tốt đẹp xuống người sản xuất, hay nông gia hoặc ngư dân, như mình đã nói tới tuần trước vì bề nào họ cũng khó đi vay, trong khi tác dụng ấy lại chỉ có lợi cho một số doanh nghiệp nhà nước, hoặc những cơ sở có quan hệ chính trị thuận lợi với tay chân nhà nước.

Hỏi: Chúng ta bước qua phần thứ hai, thưa ông. Thống kê kinh tế vừa công bố có cho thấy mức nhập siêu vẫn quá cao của Việt Nam, với ảnh hưởng tất yếu là khiến đồng bạc Việt Nam mất giá. Trong khi ấy, như một chương trình kỳ trước đã trình bày, đồng Mỹ kim hết sụt giá mà còn có vẻ tăng so với các ngoại tệ khác, tức là cũng sẽ tăng so với tiền Việt Nam. Như vậy, có phải Việt Nam còn bị một sức ép rất nặng khác là tỷ giá đồng bạc sẽ phải hạ, cụ thể là phải hơn hai chục nghìn đồng mới đổi được một đô la, chứ không phải chỉ có chừng 17 nghìn như hiện nay. Điều ấy có đúng không"

- Thưa đúng vậy và vấn đề thứ hai này cũng đáng chú ý như chuyện lãi suất và chống lạm phát. Việt Nam bị nhập siêu nặng vì nhập khẩu gia tăng quá mạnh và tăng ở nhiều nơi không trực tiếp có lợi cho sản xuất, do tác động của các đại gia có quyền thế, như ta có nới tới rất nhiều lần. Họ nhập khẩu bừa phứa để trục lợi riêng và còn lập cơ sở tiếng là đầu tư ở nước ngoài để thực hiện loại nghiệp vụ tai hại ấy.

Trong khi đó, dù hối suất hay tỷ giá đồng bạc của Việt Nam được duy trì rất thấp và dù thương phẩm hay ngũ cốc đang tăng giá trên thế giới, xuất khẩu của Việt nam vẫn tăng chậm hơn số nhập khẩu. Thí dụ như nông gia Việt Nam đang bị ứ lúa gạo mà bán ra ngoài không được mặc dù giá gạo trên thế giới hiện vẫn còn cao. Hậu quả của tình trạng đó là Việt Nam sẽ còn bị nhập siêu và nói gì thì nói, mức nhập siêu tới cuối năm nay sẽ sấp xỉ khối dự trữ ngoại tệ của Việt Nam và đồng bạc Việt Nam sẽ còn mất giá rất nặng.

Hỏi: Nếu tổng kết lại thì dường như Việt Nam chưa ra khỏi đường hầm và cũng chưa thấy ánh sáng ở cuối đường hầm" Chẳng lẽ tình hình lại nguy kịch như vậy sao"

- Tôi không thích nói đến chuyện đen tối, nhưng chưa thể có ánh sáng ở cuối đường hầm mà đường hầm có thể còn sụp trên đầu mọi người như ta đang thấy tại Thủ Thiêm. Lý do là lạm phát sẽ phải hạ thấp hơn mức lãi suất hiện nay, tức là vật giá không thể tăng quá 20% so với cùng kỳ năm ngoái, hoặc không tăng quá 1,5% trong ba tháng trước mặt. Kịch bản này không thể xảy ra cho dù dầu thô có giảm tới giá dưới 100 đồng một thùng. Lý do thứ hai là dầu thô có giảm thì Mỹ kim cũng lại tăng giá và càng gây sức ép vào cơ chế kinh tế quá lỏng lẻo của Việt Nam và sẽ gây ra khủng hoảng về ngoại hối.

Hỏi: Câu hỏi cuối thưa ông. Trong viễn ảnh kém sáng sủa như vậy thì vì sao một tập đoàn đầu tư rất lớn của Mỹ là Franklin Templeton quyết định lập văn phòng đầu tư tại Việt Nam và người quản trị đầu tư nổi tiếng thế giới là ông Mark Mobius đã có những nhận định lạc quan về tương lai kinh tế Việt Nam"

- Cách đây gần hai chục năm, vào quãng 1992, tôi có dịp liên lạc với nhân vật nổi tiếng này khi Templeton chuẩn bị đổ bộ vào đầu tư trực tiếp tại Việt Nam. Khi đó, ai cũng mong là chuyện ấy sẽ thành, nhưng tôi lại nêu ý kiến ngược. Rằng trước khi vào thì phải chuẩn bị chiến lược tháo chạy - exit strategy - vì nhiều bất trắc trong cơ chế kinh tế và chính trị của Việt Nam. Sau đó, năm 1994, ông Mobius có đem tiền vào tìm các dự án đầu tư có giá trị để tải trợ kiếm lời, mà kiếm không ra. Quỹ đầu tư của ông ta phải đổi mục tiêu và cải danh thành quỹ đầu tư vào các doanh nghiệp có liên hệ đến Việt Nam, tức là đầu tư vào các công ty đầu tư vào Việt Nam. Sau cùng thì quỹ này cũng phải đóng cửa, đây là một thất bại nhỏ của ông Mobius.

Hỏi: Bây giờ, ông ta lại mở cơ sở đầu tư vào Việt Nam thì điều đó có nghĩa là tình hình đã có thay đổi hay không"

- Thưa lần này Templeton vào Việt Nam không để đầu tư trực tiếp, là bỏ tiền vào các dự án sản xuất, mà đầu tư gián tiếp, là mua cổ phần hay hùn vốn vào các doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước sẽ cổ phần hoá, trước hết hùn vốn đầu tư với Vietcombank. Nhân chuyện này, tôi xin được nhắc tới lời khuyên của ông Nathan Rothschild, nhà đầu tư nối tiếng từ đầu thế kỷ 19 sau trận Waterloo giữa Anh và Pháp. Lời khuyên đó là "khi máu chảy đầy đường thì đấy là lúc nên mua vào". Có thể là sau trận khủng hoảng và xuất huyết này, Việt Nam sẽ có thay đổi tốt đẹp hơn và người trường vốn có khi chờ đợi viễn ảnh tốt đẹp ấy, để làm chủ với giá rất rẻ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.