Hôm nay,  

Sóng Gió Á Châu

05/06/200800:00:00(Xem: 8686)
...Nếu dầu thô tiếp tục lên giá và vượt qua ngưỡng 150 một thùng, nhiều nền kinh tế sẽ bị suy trầm, thậm chí suy thoái...

Trong khi nhóm tư vấn các nhà viện trợ cho Việt Nam đang họp hội nghị giữa năm tại Sapa ở miền Bắc thì hàng loạt tin xấu cho kinh tế Á châu đã được loan truyền, trong đó có nhiều tin đáng gây quan ngại cho Việt Nam.

Liệu một cuộc khủng hoảng kinh tế Á châu có thể khởi sự từ Việt Nam như một đồng đôminô đầu tiên bị lật hay không"

Diễn đàn Kinh tế của đài RFA sẽ tìm hiểu vấn đề này qua phần trao đổi do Việt Long thực hiện cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa.

Hỏi: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Trong tuần này, nhóm tư vấn các nhà tài trợ có hội nghị giữa kỳ tại Hà Nội hầu kiểm điểm về việc thực hiện viện trợ cho Việt Nam. Người ta chú ý thấy là những phát biểu đầu tiên của các giới chức hữu trách có nội dung tương đối lạc quan hơn sự thẩm định của các tập đoàn đầu tư hay lượng giá trái phiếu mà thị trường đã được biết vào tuần trước. Câu hỏi đầu tiên là có thể nào giải thích được sự khác biệt đó không, và tình hình kinh tế Việt Nam có thật sự đen tối như vậy không"

- Hàng năm vào giữa tháng 12 thì các nhà cấp viện, gồm các nước và các tổ chức quốc tế, thường có hội nghị quyết định về ngân khoản và mục tiêu viện trợ. Vào dịp này, Ngân hàng Thế giới công bố một báo cáo thường niên của mình về quốc gia được cấp viện. Qua tháng Sáu, các công chức ngoại giao và viên chức kinh tế lại họp hội nghị lần nữa - thường là ở một trung tâm du lịch thoải mái - để rà soát lại việc tiếp nhận viện trợ, và cũng nhân dịp này nhắc lại một số khuyến cáo chung chung đã được nêu lên từ sáu tháng trước. Đây là thủ tục đã quá quen thuộc và không còn gây hứng khởi cho dư luận ở trong nước. Đó là về bối cảnh. Lý do vì sao lại có sự khác biệt trong cách lượng định thì có nhiều lắm, không biết là ta có nên nói hết hay chăng.

Hỏi: Xin ông cứ tự nhiên trình bày cho rõ vì thính giả cần biết là các thầy thuốc quốc tế chẩn đoán tình hình sức khoẻ của kinh tế Việt Nam ra sao để còn liệu bề mà nghe, mà tính.

- Thứ nhất, các tổ chức viện trợ quốc tế thường là bộ máy thư lại khổng lồ và có quán tính nặng. Những lượng định của họ xuất phát từ các dự kiện của quá khứ, sớm lắm là sáu tháng trước. Cho nên tình hình kinh tế Việt Nam cho năm 2008 mà họ dự báo tại hội nghị tài trợ triệu tập cuối năm 2007 thật ra là bức tranh đã lỗi thời của sáu tháng hay cả năm trước.

Thứ hai, đa số viên chức trong sứ quán ngoại quốc liên hệ đến viện trợ kinh tế cho Việt Nam cũng lệ thuộc nhiều vào các báo cáo quốc tế đã lỗi thời đó.

Thứ ba, các chuyên gia quốc tế hay nhà ngoại giao của quốc gia cấp viện đều phải duy trì tinh thần hữu nghị với quốc gia thụ hưởng nên lời phê phán của họ đều có bọc đường cho dễ nuốt. Báo chí tại Việt Nam chỉ được phép nói đến lớp đường ấy, nên dân chúng không rõ là quốc tế đang khuyến cáo chính quyền như thế nào.

- Sau cùng, đây là chuyện tế nhị mà cũng quan trọng, ta có nạn "cha chung không ai khóc". Các viên chức quốc tế phụ trách về viện trợ được trả lương rất cao trong một nhiệm kỳ nhất định để cấp phát tiền viện trợ vốn không phải là của họ. Họ chẳng cần chặt chẽ kiểm soát việc sử dụng hoặc nêu ra phán đoán nghiêm khắc mà mất hòa khí trong khi đang phục vụ tại chỗ.

Thí dụ nổi bật là ít ai nhắc đến nạn tham nhũng tại Việt Nam hay vụ tai tiếng của cơ quan quản lý PMU-18 mà ai ai trong nước cũng nghe nói tới. Vì vậy, không nên ngạc nhiên vì sao bức tranh của các nhà cấp viện thường có nhiều màu hồng hơn hẳn thực tế đen tối ở tại chỗ.

Hỏi: Ông có khe khắt quá không khi nêu ra nhận xét đó"

- Chúng ta cứ đọc lại báo cáo của Ngân hàng Thế giới về kinh tế Đông Á hay Việt Nam được họ công bố hồi cuối năm ngoái và so sánh với những gì đang xảy ra thì biết. Thí dụ là Ngân hàng Thế giới còn dự báo là kinh tế Việt Nam sẽ đạt mức tăng trưởng hơn 8% vào năm nay trong khi Việt Nam đã điều chỉnh lại chỉ tiêu tăng trưởng là 7% mà chưa biết có nổi hay không.

- Cuối năm ngoái, ta đã thấy nạn lạm phát xuất hiện tại châu Á, giá thương phẩm, kể cả lương thực, đã tăng vọt trên thế giới hoặc thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu tuột đáy. Những vấn đề ấy không được các báo cáo này quan tâm đúng mức với những lời tiên báo cần thiết cho Hà Nội. Ta cũng không quên rằng mới tháng Tám vừa qua mà thôi, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Robert Zoellick còn hết lời ngợi ca thành tích xoá đói giảm nghèo của Việt Nam.

- Cũng thế, 10 năm về trước, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF ca tụng phép lạ kinh tế Đông Á chỉ có năm tháng trước khi khủng hoảng kinh tế bùng nổ tại Thái vào tháng Bảy rồi lây lan khắp Đông Á. Khi biến động đã lan rộng, IMF mới yêu cầu Indonesia áp dụng giải pháp kinh điển là bỏ trợ giá năng lượng khiến xăng dầu tăng giá đột ngột và động loạn xảy ra, chính quyền Suharto bị lật đổ trong một vụ khủng hoảng chính trị. Loại trường hợp chẩn đoán chậm lụt và kê toa tai hại như vậy của các công chức quốc tế đã gây tranh luận khá nhiều nhưng không là mục tiêu tìm hiểu của chương trình kỳ này.

Hỏi: Trong khi ấy, sự thẩm định của các tập đoàn đầu tư như Morgan Stanley, hay các công ty lượng giá như Standard & Poor's hay Fitch lại có vẻ bi quan hơn, nhưng liệu có chính xác hơn chăng"

- Là nhà đầu tư hoặc công ty kinh doanh thông tin thị trường, các cơ sở ấy phải chịu trách nhiệm và khá sớm về giá trị thẩm định của họ. Nếu thẩm định sai là mất khách, mất tiền hoặc mất việc, theo quy luật ta gọi là "của đau con xót". Và vì là tư doanh, họ phải nhặm lẹ theo dõi tình hình cập nhật hơn, cho nên sự phán đoán của họ tất nhiên đi sát hơn với các biến động của thị trường.

- Một thí dụ là tuần qua, Tổng quản trị Kennedy Thompson của ngân hàng Wachovia tại Hoa Kỳ vừa bị mất chức. Trước đó, hai chủ tịch ngân hàng đầu tư lớn tại Mỹ cũng mất việc vì cơ sở bị mất vốn trong vụ khủng hoảng tín dụng gia cư. Ta cũng không quên là Standard & Poor's vừa đánh sụt giá ba tổ hợp đầu tư lớn nhất của Mỹ là Merrill Lynch, Morgan Stanley và Lehman Brothers, và cũng điều chỉnh dự đoán về kinh doanh của hai ngân hàng Bank of America và JP Mogan Chase theo hướng tiêu cực hơn. Thông tin ấy khiến thị trường cổ phiếu Mỹ tuột giá mạnh ngày thứ Hai và làm suy yếu thị trường chứng khoán Âu châu rồi Á châu trong ngày thứ Ba.

- Cho nên, sự phán xét của thị trường thường cập nhật và tàn khốc hơn là của các tổ chức quốc tế vốn dĩ cũng chỉ quy tụ các công chức có nếp sinh hoạt thư lại, chậm lụt. Đây là vì sao có sự khác biệt giữa tư doanh và công chức trong cách lượng giá hay chẩn bệnh cùng một đối tượng.

Hỏi: Bây giờ, chúng ta bước qua câu hỏi chính là liệu Á châu có thể bị khủng hoảng hay không" Khi theo dõi tin tức thị trường châu Á, ông thấy ra những gì là đáng chú ý vì có thể tiên báo một cuộc khủng hoảng như nhiều công ty đầu tư đã dự đoán vào tuần trước"

- Có một hồi chuông cảnh báo từ Á châu là hôm Thứ Ba 27 vừa qua, các ngân hàng trung ương của Nam Hàn, Đài Loan, Indonesia và Philippines đã đồng loạt bán ra Mỹ kim để nâng giá đồng bạc của họ. Mục tiêu của biện pháp là để ngăn chặn lạm phát dù biện pháp ấy có gây hệ quả là khiến hàng xuất khẩu của họ trở thành đắt giá hơn. Trong chương trình kỳ trước, khi nói đến nạn lạm phát và nhập siêu của Việt Nam, chúng ta cũng đã đề cập đến việc điều chỉnh ưu tiên, rằng then chốt là ngừa lạm phát hơn là cố xuất khẩu. Các vụ đình công biểu tình đang lan rộng trong nước là dấu hiệu của nạn tức nước vỡ bờ khi chiến lược xuất khẩu tối đa bằng cách ép lương ép giá cho rẻ đã hết công hiệu trong bối cảnh Mỹ kim mất giá, và thương phẩm cùng lương thực tăng giá.

- Bốn nước Đông Á kể trên vốn cũng theo đuổi chiến lược xuất khẩu tối đa nay đang chuyển hướng và đó là biến cố tiên báo cho nhiều chuyển động lớn vì các nước này hết chịu đựng nổi đà tăng giá thương phẩm và phải điều chỉnh lại ưu tiên để tránh khủng hoảng.

Hỏi: Việc các quốc gia đó muốn nâng giá đồng bạc của họ có ảnh hưởng gì đến Việt Nam" 

- Biến cố ấy khiến ta chú ý đến Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam, ba nước có khu vực chế biến chiếm một tỷ trọng lớn của sản xuất và bị hiệu ứng giá cả nguyên nhiên vật liệu trầm trọng hơn cả. Trong cái thế liên hợp vì đã hội nhập kinh tế và giao dịch với nhau, khi bốn xứ Đông Á kia phải can thiệp vào thị trường ngoại hối thì ba xứ này sẽ bị sức ép nặng hơn và dễ bị khủng hoảng hơn.

- Thí dụ như Trung Quốc có thấy trước nên chậm rãi nâng giá đồng nhân dân tệ từ hai năm nay mà giờ đây còn chưa biết xoay trở ra sao trong cảnh đói ăn khát dầu mà còn phải tổ chức Thế vận hội như một đám cưới chạy tang, là điều chúng ta sẽ cùng tìm hiểu trong một kỳ khác.

- Việt Nam thì vẫn muốn hạ giá đồng bạc để bán rẻ và năm ngoái lại còn chê Mỹ kim, không thèm mua vào, rồi giờ đây đang bị ba vòng xoáy cùng đẩy xuống đáy là lạm phát, nhập siêu và cả nạn bội chi ngân sách.

- Nhìn về dài thì dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện không đủ dày để có thể can thiệp như Thái Lan đã cố làm trước khi bị tuột tay và mất toi 30 tỷ Mỹ kim vào tháng Bảy năm 1997. Vì bị nhập siêu quá nặng, cán cân chi phó hay vãng lai Việt Nam có thể hụt tới gần 8% tổng sản lượng GDP, còn cao hơn Thái Lan trước khi Thái bị khủng hoảng, nên rủi ro của Việt Nam là có thật nếu dầu thô không giảm giá trong mấy tháng tới để giải tỏa bớt một phần sức ép trên giá cả trong nước.

Hỏi: Trong một chương trình trước ông có nói là Việt Nam chỉ còn nước cầu Trời khấn Phật cho dầu thô giảm giá, vì vậy xin hỏi thêm một câu cuối là liệu dầu thô có thể giảm giá hay không"

- Ta khó dự đoán một cách chính xác vì cả hai loại yếu tố khiến giá lên hay xuống đều đang tác động.

- Nếu dầu thô tiếp tục lên giá và vượt qua ngưỡng 150 một thùng, nhiều nền kinh tế sẽ bị suy trầm, thậm chí suy thoái, và số cầu về nhiên liệu cho sản xuất sẽ giảm. Khi số cầu giảm, giá dầu có thể hạ theo một tỷ lệ còn mạnh hơn sự sút giảm của số cầu như ta có thấy sau vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á 10 năm trước. Nhưng trong giả thuyết suy trầm ấy, phải xét lại khả năng chịu đựng của Việt Nam. Và trong hoàn cảnh ấy, người ta mới chú ý đến tiền đầu tư nước ngoài và nhất là lượng kiều hối, là tiền người Việt tại hải ngoại gửi về, có thể đã lên tới 10 tỷ trong thực tế. Đây là một nguồn tiếp trợ đáng kể để Việt Nam có thể cầm cự được trong cơn sóng gió. Chúng ta sẽ còn phải trở lại vấn đề này trong nhiều chương trình tới.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.