Hôm nay,  

Sóng Gió Á Châu

05/06/200800:00:00(Xem: 8793)
...Nếu dầu thô tiếp tục lên giá và vượt qua ngưỡng 150 một thùng, nhiều nền kinh tế sẽ bị suy trầm, thậm chí suy thoái...

Trong khi nhóm tư vấn các nhà viện trợ cho Việt Nam đang họp hội nghị giữa năm tại Sapa ở miền Bắc thì hàng loạt tin xấu cho kinh tế Á châu đã được loan truyền, trong đó có nhiều tin đáng gây quan ngại cho Việt Nam.

Liệu một cuộc khủng hoảng kinh tế Á châu có thể khởi sự từ Việt Nam như một đồng đôminô đầu tiên bị lật hay không"

Diễn đàn Kinh tế của đài RFA sẽ tìm hiểu vấn đề này qua phần trao đổi do Việt Long thực hiện cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa.

Hỏi: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Trong tuần này, nhóm tư vấn các nhà tài trợ có hội nghị giữa kỳ tại Hà Nội hầu kiểm điểm về việc thực hiện viện trợ cho Việt Nam. Người ta chú ý thấy là những phát biểu đầu tiên của các giới chức hữu trách có nội dung tương đối lạc quan hơn sự thẩm định của các tập đoàn đầu tư hay lượng giá trái phiếu mà thị trường đã được biết vào tuần trước. Câu hỏi đầu tiên là có thể nào giải thích được sự khác biệt đó không, và tình hình kinh tế Việt Nam có thật sự đen tối như vậy không"

- Hàng năm vào giữa tháng 12 thì các nhà cấp viện, gồm các nước và các tổ chức quốc tế, thường có hội nghị quyết định về ngân khoản và mục tiêu viện trợ. Vào dịp này, Ngân hàng Thế giới công bố một báo cáo thường niên của mình về quốc gia được cấp viện. Qua tháng Sáu, các công chức ngoại giao và viên chức kinh tế lại họp hội nghị lần nữa - thường là ở một trung tâm du lịch thoải mái - để rà soát lại việc tiếp nhận viện trợ, và cũng nhân dịp này nhắc lại một số khuyến cáo chung chung đã được nêu lên từ sáu tháng trước. Đây là thủ tục đã quá quen thuộc và không còn gây hứng khởi cho dư luận ở trong nước. Đó là về bối cảnh. Lý do vì sao lại có sự khác biệt trong cách lượng định thì có nhiều lắm, không biết là ta có nên nói hết hay chăng.

Hỏi: Xin ông cứ tự nhiên trình bày cho rõ vì thính giả cần biết là các thầy thuốc quốc tế chẩn đoán tình hình sức khoẻ của kinh tế Việt Nam ra sao để còn liệu bề mà nghe, mà tính.

- Thứ nhất, các tổ chức viện trợ quốc tế thường là bộ máy thư lại khổng lồ và có quán tính nặng. Những lượng định của họ xuất phát từ các dự kiện của quá khứ, sớm lắm là sáu tháng trước. Cho nên tình hình kinh tế Việt Nam cho năm 2008 mà họ dự báo tại hội nghị tài trợ triệu tập cuối năm 2007 thật ra là bức tranh đã lỗi thời của sáu tháng hay cả năm trước.

Thứ hai, đa số viên chức trong sứ quán ngoại quốc liên hệ đến viện trợ kinh tế cho Việt Nam cũng lệ thuộc nhiều vào các báo cáo quốc tế đã lỗi thời đó.

Thứ ba, các chuyên gia quốc tế hay nhà ngoại giao của quốc gia cấp viện đều phải duy trì tinh thần hữu nghị với quốc gia thụ hưởng nên lời phê phán của họ đều có bọc đường cho dễ nuốt. Báo chí tại Việt Nam chỉ được phép nói đến lớp đường ấy, nên dân chúng không rõ là quốc tế đang khuyến cáo chính quyền như thế nào.

- Sau cùng, đây là chuyện tế nhị mà cũng quan trọng, ta có nạn "cha chung không ai khóc". Các viên chức quốc tế phụ trách về viện trợ được trả lương rất cao trong một nhiệm kỳ nhất định để cấp phát tiền viện trợ vốn không phải là của họ. Họ chẳng cần chặt chẽ kiểm soát việc sử dụng hoặc nêu ra phán đoán nghiêm khắc mà mất hòa khí trong khi đang phục vụ tại chỗ.

Thí dụ nổi bật là ít ai nhắc đến nạn tham nhũng tại Việt Nam hay vụ tai tiếng của cơ quan quản lý PMU-18 mà ai ai trong nước cũng nghe nói tới. Vì vậy, không nên ngạc nhiên vì sao bức tranh của các nhà cấp viện thường có nhiều màu hồng hơn hẳn thực tế đen tối ở tại chỗ.

Hỏi: Ông có khe khắt quá không khi nêu ra nhận xét đó"

- Chúng ta cứ đọc lại báo cáo của Ngân hàng Thế giới về kinh tế Đông Á hay Việt Nam được họ công bố hồi cuối năm ngoái và so sánh với những gì đang xảy ra thì biết. Thí dụ là Ngân hàng Thế giới còn dự báo là kinh tế Việt Nam sẽ đạt mức tăng trưởng hơn 8% vào năm nay trong khi Việt Nam đã điều chỉnh lại chỉ tiêu tăng trưởng là 7% mà chưa biết có nổi hay không.

- Cuối năm ngoái, ta đã thấy nạn lạm phát xuất hiện tại châu Á, giá thương phẩm, kể cả lương thực, đã tăng vọt trên thế giới hoặc thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu tuột đáy. Những vấn đề ấy không được các báo cáo này quan tâm đúng mức với những lời tiên báo cần thiết cho Hà Nội. Ta cũng không quên rằng mới tháng Tám vừa qua mà thôi, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Robert Zoellick còn hết lời ngợi ca thành tích xoá đói giảm nghèo của Việt Nam.

- Cũng thế, 10 năm về trước, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF ca tụng phép lạ kinh tế Đông Á chỉ có năm tháng trước khi khủng hoảng kinh tế bùng nổ tại Thái vào tháng Bảy rồi lây lan khắp Đông Á. Khi biến động đã lan rộng, IMF mới yêu cầu Indonesia áp dụng giải pháp kinh điển là bỏ trợ giá năng lượng khiến xăng dầu tăng giá đột ngột và động loạn xảy ra, chính quyền Suharto bị lật đổ trong một vụ khủng hoảng chính trị. Loại trường hợp chẩn đoán chậm lụt và kê toa tai hại như vậy của các công chức quốc tế đã gây tranh luận khá nhiều nhưng không là mục tiêu tìm hiểu của chương trình kỳ này.

Hỏi: Trong khi ấy, sự thẩm định của các tập đoàn đầu tư như Morgan Stanley, hay các công ty lượng giá như Standard & Poor's hay Fitch lại có vẻ bi quan hơn, nhưng liệu có chính xác hơn chăng"

- Là nhà đầu tư hoặc công ty kinh doanh thông tin thị trường, các cơ sở ấy phải chịu trách nhiệm và khá sớm về giá trị thẩm định của họ. Nếu thẩm định sai là mất khách, mất tiền hoặc mất việc, theo quy luật ta gọi là "của đau con xót". Và vì là tư doanh, họ phải nhặm lẹ theo dõi tình hình cập nhật hơn, cho nên sự phán đoán của họ tất nhiên đi sát hơn với các biến động của thị trường.

- Một thí dụ là tuần qua, Tổng quản trị Kennedy Thompson của ngân hàng Wachovia tại Hoa Kỳ vừa bị mất chức. Trước đó, hai chủ tịch ngân hàng đầu tư lớn tại Mỹ cũng mất việc vì cơ sở bị mất vốn trong vụ khủng hoảng tín dụng gia cư. Ta cũng không quên là Standard & Poor's vừa đánh sụt giá ba tổ hợp đầu tư lớn nhất của Mỹ là Merrill Lynch, Morgan Stanley và Lehman Brothers, và cũng điều chỉnh dự đoán về kinh doanh của hai ngân hàng Bank of America và JP Mogan Chase theo hướng tiêu cực hơn. Thông tin ấy khiến thị trường cổ phiếu Mỹ tuột giá mạnh ngày thứ Hai và làm suy yếu thị trường chứng khoán Âu châu rồi Á châu trong ngày thứ Ba.

- Cho nên, sự phán xét của thị trường thường cập nhật và tàn khốc hơn là của các tổ chức quốc tế vốn dĩ cũng chỉ quy tụ các công chức có nếp sinh hoạt thư lại, chậm lụt. Đây là vì sao có sự khác biệt giữa tư doanh và công chức trong cách lượng giá hay chẩn bệnh cùng một đối tượng.

Hỏi: Bây giờ, chúng ta bước qua câu hỏi chính là liệu Á châu có thể bị khủng hoảng hay không" Khi theo dõi tin tức thị trường châu Á, ông thấy ra những gì là đáng chú ý vì có thể tiên báo một cuộc khủng hoảng như nhiều công ty đầu tư đã dự đoán vào tuần trước"

- Có một hồi chuông cảnh báo từ Á châu là hôm Thứ Ba 27 vừa qua, các ngân hàng trung ương của Nam Hàn, Đài Loan, Indonesia và Philippines đã đồng loạt bán ra Mỹ kim để nâng giá đồng bạc của họ. Mục tiêu của biện pháp là để ngăn chặn lạm phát dù biện pháp ấy có gây hệ quả là khiến hàng xuất khẩu của họ trở thành đắt giá hơn. Trong chương trình kỳ trước, khi nói đến nạn lạm phát và nhập siêu của Việt Nam, chúng ta cũng đã đề cập đến việc điều chỉnh ưu tiên, rằng then chốt là ngừa lạm phát hơn là cố xuất khẩu. Các vụ đình công biểu tình đang lan rộng trong nước là dấu hiệu của nạn tức nước vỡ bờ khi chiến lược xuất khẩu tối đa bằng cách ép lương ép giá cho rẻ đã hết công hiệu trong bối cảnh Mỹ kim mất giá, và thương phẩm cùng lương thực tăng giá.

- Bốn nước Đông Á kể trên vốn cũng theo đuổi chiến lược xuất khẩu tối đa nay đang chuyển hướng và đó là biến cố tiên báo cho nhiều chuyển động lớn vì các nước này hết chịu đựng nổi đà tăng giá thương phẩm và phải điều chỉnh lại ưu tiên để tránh khủng hoảng.

Hỏi: Việc các quốc gia đó muốn nâng giá đồng bạc của họ có ảnh hưởng gì đến Việt Nam" 

- Biến cố ấy khiến ta chú ý đến Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam, ba nước có khu vực chế biến chiếm một tỷ trọng lớn của sản xuất và bị hiệu ứng giá cả nguyên nhiên vật liệu trầm trọng hơn cả. Trong cái thế liên hợp vì đã hội nhập kinh tế và giao dịch với nhau, khi bốn xứ Đông Á kia phải can thiệp vào thị trường ngoại hối thì ba xứ này sẽ bị sức ép nặng hơn và dễ bị khủng hoảng hơn.

- Thí dụ như Trung Quốc có thấy trước nên chậm rãi nâng giá đồng nhân dân tệ từ hai năm nay mà giờ đây còn chưa biết xoay trở ra sao trong cảnh đói ăn khát dầu mà còn phải tổ chức Thế vận hội như một đám cưới chạy tang, là điều chúng ta sẽ cùng tìm hiểu trong một kỳ khác.

- Việt Nam thì vẫn muốn hạ giá đồng bạc để bán rẻ và năm ngoái lại còn chê Mỹ kim, không thèm mua vào, rồi giờ đây đang bị ba vòng xoáy cùng đẩy xuống đáy là lạm phát, nhập siêu và cả nạn bội chi ngân sách.

- Nhìn về dài thì dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện không đủ dày để có thể can thiệp như Thái Lan đã cố làm trước khi bị tuột tay và mất toi 30 tỷ Mỹ kim vào tháng Bảy năm 1997. Vì bị nhập siêu quá nặng, cán cân chi phó hay vãng lai Việt Nam có thể hụt tới gần 8% tổng sản lượng GDP, còn cao hơn Thái Lan trước khi Thái bị khủng hoảng, nên rủi ro của Việt Nam là có thật nếu dầu thô không giảm giá trong mấy tháng tới để giải tỏa bớt một phần sức ép trên giá cả trong nước.

Hỏi: Trong một chương trình trước ông có nói là Việt Nam chỉ còn nước cầu Trời khấn Phật cho dầu thô giảm giá, vì vậy xin hỏi thêm một câu cuối là liệu dầu thô có thể giảm giá hay không"

- Ta khó dự đoán một cách chính xác vì cả hai loại yếu tố khiến giá lên hay xuống đều đang tác động.

- Nếu dầu thô tiếp tục lên giá và vượt qua ngưỡng 150 một thùng, nhiều nền kinh tế sẽ bị suy trầm, thậm chí suy thoái, và số cầu về nhiên liệu cho sản xuất sẽ giảm. Khi số cầu giảm, giá dầu có thể hạ theo một tỷ lệ còn mạnh hơn sự sút giảm của số cầu như ta có thấy sau vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á 10 năm trước. Nhưng trong giả thuyết suy trầm ấy, phải xét lại khả năng chịu đựng của Việt Nam. Và trong hoàn cảnh ấy, người ta mới chú ý đến tiền đầu tư nước ngoài và nhất là lượng kiều hối, là tiền người Việt tại hải ngoại gửi về, có thể đã lên tới 10 tỷ trong thực tế. Đây là một nguồn tiếp trợ đáng kể để Việt Nam có thể cầm cự được trong cơn sóng gió. Chúng ta sẽ còn phải trở lại vấn đề này trong nhiều chương trình tới.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.