Hôm nay,  

Bố Cười Bằng Mắt

15/06/200800:00:00(Xem: 7673)

Bảo là quá khích thì tôi cũng chịu vậy. Trong vòng một tuần lễ tôi đi xem phim "Ba Mùa" (Three Seasons) hai lần. Lần thứ hai là để nhìn rõ hơn cái dáng nét Bố tôi nơi anh chàng Hải đạp xích lô dưới ống kính rất nghệ thuật và tài tình của đạo diễn Tony Bùi, vẽ tả ra được tâm hồn một người Bố Việt. Như vậy là vừa khích chứ đâu phải quá khích!

THỜI ĐIỂM NGÀY THƯƠNG BỐ

Anh chàng Hải có dáng phong sương với nước da đen sạm, nhưng con mắt thì thật sáng diễn tả một tâm hồn thanh thản và cương nghị có sức hóa giải tất cả, vượt qua tất cả, kham nổi nắng oi nực cũng như mưa đầm đìa. Chắc là anh bị lỡ thời, chữ nghĩa không còn giá trị bằng cặp giò đạp xích lô. Những lúc ế ẩm không có khách, nhớ chữ nghĩa quá thì anh lôi cuốn sách cũ nhàu nát ra đọc, hay ban đêm ngước nhìn sao trời làm người nhà giầu hưởng thú khách sạn "nghìn sao." Chứng kiến bao cảnh oan trái và trớ trêu, anh vẫn nhẫn nhục góp phần thả hoa xuống dòng sông cuộc đời, bằng một thứ tình yêu tinh ròng, nguyên thủy. Những giọt mồ hôi nhễ nhãi của anh có thể thơm hơn những đồng tiền trong những khách sạn năm sao ăn chơi sang trọng mà bần tiện kia. 

Bố tôi cũng bị sa cơ thất thế. Dòng nội tổ có thể đã từ đâu tụ về vùng Trà Lũ bên Nam Định, nơi phát sinh cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành. Sau khi thất bại, thì nhiều người được Doanh Điền Sứ Nguyễn Công Trứ khôn khéo bao che cho về "núi vàng" Kim Sơn từ năm 1829 làm "nguyên mộ," tức là những người đầu tiên có công mộ dân đi lập nghiệp nơi cánh đồng lầy với những làng mang tên thật đẹp cho lên tinh thần như Hòa Lạc, Chí Tĩnh, Quy Hậu, Tôn Đạo... và đã nhiều đời đứng đầu một lý, với bao chông chà thuở ban đầu như ca vè vùng đất Kim Sơn còn ghi lại:

Đường đi như thể chông chà,

Ầm ầm muỗi bọ như là thóc xay.

"Núi vàng" với những đống lúa cao như núi thì chưa thấy, chứ gia phả để lại thì chỉ kể chuyện về những cảnh phá giặc và dẹp cướp Tàu Ô vùng cửa Thần Phù rất gian khổ.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm.

Nơi Bố tôi sinh trưởng không có gì là "địa linh nhân kiệt" cả. Không phát xuất nhiều bậc tài ba mà cũng chẳng là nôi sinh văn hóa trống đồng hay trống da trâu gì hết, ngoại trừ một di tích đã xưa cũ là động Hoa Lư của Đinh Bộ Lĩnh, Trương Hán Siêu và cái gia sản tinh thần tự do không chịu luồn cúi chầu chực một cái khuôn rã nát của lớp cai trị đã làm cản bước tiến. Vào thập niên '30, Bố phải bỏ quê sang Thái lan lập nghiệp mấy năm, nhưng ông nội bắt về lập gia đình để cầm chân cho chắc ăn. Mà Bố có muốn an phận thủ thường cũng đâu có dễ. Chỉ biết những ngày thơ ấu, tôi đã chứng kiến cái cảnh sau hiệp định Genève bố tôi được thả tù trở về đúng là một con chó chết ốm o, vì  như lời Bố kể vùng rừng núi nhà tù nước độc đến nỗi con chó lội qua suối lên là trụi không còn một chiếc lông nào. Hình ảnh mẹ tôi hồi còn trẻ khóc lăn lộn vật vã suốt những tháng ngày Bố tôi bị bắt vào đêm "tháp chuông Hòa Lạc" vẫn mãi mãi ghi đậm trong tôi.

 Thế là Bố tôi mang gia đình di cư vào Nam với hai bàn tay trắng, sống thấp cổ bé miệng không sao ngóc đầu lên được.Trong nhiều kỷ niệm của gia đình, tôi còn nhớ cái đêm Bố khóc. Vào khoảng năm 1957 gì đó, mẹ tôi và tất cả các em đều bị đau nặng nằm ở nhà thương, mà nhà quá nghèo không sao chạy được tiền thuốc. Vào khoảng hai ba giờ sáng, tôi bỗng giật mình dậy vì những tiếng nấc và những tiếng kể lể thổn thức rằng "mẹ ơi, con là đứa con bất hiếu, con để mẹ lại ngoài Bắc, mang vợ con chạy vào đây mà bây giờ cùng quẫn không còn biết xoay xở làm sao!" Thì ra ban ngay Bố tôi cố nén niềm đau xót. Tôi hiểu vậy nên nằm nín thinh không dám cho Bố hay là tôi đã thức, chỉ biết chảy nước mắt thương Bố, cảm được tâm hồn của Bố, mặc dù tôi còn nhỏ. Càng lớn lên tôi càng hiểu Bố tôi có tính chẳng chịu cầu cạnh lụy ai, vì thế nghèo lâu là phải! Nhưng tôi lại thương luôn cái ngang tàng này của Bố mà cũng tập tành đi vào cuộc đời. Vì thế mà xem phim Ba Mùa (Three Seasons) tôi chịu ngay cái anh chàng Hải hào sảng đạp xích lô. Và tôi bèn kiếm ngay cho Bố tôi một cái nghề mới là nghề đạp xích lô, mặc dù Bố tôi đã qua đời từ lâu do gánh chịu bệnh hoạn tật nguyền của những ngày tù tội, không được hưởng cái làm ăn lên của gia đình về sau.

CON ỐC MANG QUÁ KHỨ ĐI CHÔN

Có lần nhà thơ Quan Dương ở New Orleans kể truyện Chiếc Lá giữ làm kỷ niệm như một con ốc cõng quá khứ. "Người ta trước khi có hiện tại đều bị có quá khứ hết. Quá khứ nhiều lúc muốn cởi bỏ nó không phải dễ. Ngày xưa có một con ốc nhỏ sống cô quạnh trong một vũng đầm lầy với chuỗi tháng ngày mà nó cho là buồn thảm. Cứ mỗi một ngày trả một ngày về cho quá khứ, sự buồn thảm vì thế trở thành chất chồng nặng nề một quá khứ nặng nề trên lưng con ốc. Một hôm nó quyết định mang quá khứ đi chôn. Nó nghĩ chỉ có thế nó mới được nhẹ nhàng trong cuộc sống. Nghĩa địa nằm bên kia đường. Khi con ốc chở quá khứ đến được mé đường thì nó mới thấy rằng băng qua không phải dễ. Xe cộ ngược xuôi như mắc cửi, không chừa một khoảng trống thời gian nào để khả dĩ tương xứng với vận tốc chậm như ốc để nó có thể băng qua. Cuối cùng con ốc hiểu rằng nếu nó muốn qua bên kia thì không thể nào thoát khỏi sự cán nát dưới những bánh xe. Vì thế nó đành cõng quá khứ trở về nơi đầm lầy nước đọng xưa kia. Con ốc đã không đủ can đảm làm một cuộc cách mạng hy sinh mạng sống mình để trút bỏ một quá khứ dẫu quá đau buồn. Con ốc tự nó biết là cả suốt một cuộc đời đành lẩn quẩn ôm một quá khứ đau buồn của mình và chờ chết." (Văn, tháng 4, 1999, trang 75)

 Truyện con ốc này được diễn ra thật nơi một ông bố ở vùng tôi. Ông này là một nghệ sĩ, trước kia ở Việt Nam cũng vào loại có hạng. Vậy mà sang Mỹ ông đành phải đi làm cái nghề gọi sang là "sửa sắc đẹp thành phố", "chuyên trị" rác và cỏ công viên. Ông mặc cảm vô cùng về cái thân phận chẳng giống ai. Có lần nhân có chuyện chạy qua vùng đó, tôi rà rà xe tới có ý chào ông thì từ đàng xa ông đã quay mặt đi chỗ khác làm như không thấy! Chiều về là ông đưa rượu ra vườn sau uống. Và luôn say mèm, rồi nổi cơn la hét vợ con.

 Một hôm ông nhờ tôi thu cho ông một băng nhạc bình ca, loại nhạc êm ả bằng tiếng La-tinh xưa. Ông vui ra mặt, đưa băng nhạc về nhà, đuổi vợ con đi chỗ khác hết. Ông vào phòng tắm vặn nước cho chảy róc rách, hạ độ máy lạnh xuống thật thấp, lên giường kéo mền đắp kín để chừa hai bàn chân ra, rồi mở nhạc bình ca nằm nghe thú vị quá chừng. 

Đố ai đoán được ông đang diễn trò gì đấy" Ông đang sống lại những ngày êm đềm ở Bắc Việt xưa kia. Một buổi chiều mưa rơi róc rách ở mái hiên, trời mùa thu đất Bắc lạnh sớm nên phải đắp chiếu thường không kín được chân nên cái rét ngọt len lỏi một cách đáng yêu. Từ xa xa có tiếng chuông nhà thờ lẫn tiếng nhạc La-tinh vẳng lại. Ôi mê quá là mê! 

TIN VUI GỬI CON ỐC BUỒN THẢM

Ấy, ông chuyên viên "sửa sắc đẹp thành phố" của chúng ta chán hiện tại đến tột độ rồi. Ông mắc bệnh nghiền quá khứ. Vậy mà ông cũng chế được linh dược chữa bệnh. Ông cõng quá khứ trên lưng một cách trân quí chứ chẳng chịu chôn nó. Quan Dương mà biết truyện này hay xem phim Ba Mùa thì thế nào cũng chịu cho con ốc cõng quá khứ trên lưng như những đóa sen mà thả trôi xuống dòng sông cuộc đời. Anh chàng Hải đạp xích lô, cô Kiến An đều thích cho tiếng hát ca dao chảy róc rách len lỏi vào hồn mà tạo được Mùa thứ ba làm thứ thuốc thần hóa giải hai mùa nóng khô và mưa sũng của hiện tại chẳng mấy khả quan.

Con người không ngờ mà lại sợ nhiều thứ. Sợ nghèo. Sợ mất mát. Sợ mặc cảm thua kém. Sợ quá khứ đau buồn. Sợ hiện tại trớ trêu. Sợ bóng sợ vía. Sợ chính mình nữa, như con ốc tự nhốt giam thu mình lại vào cái vỏ, tự đầy đọa mình trong đầm lầy nước đọng.

Người Bố nào mà chả có đốm lửa trong mắt, cố nuốt niềm xót xa để bật sáng lối đi tin tưởng cho con "ráng mà ngóc đầu lên con nhá."  Bố thường bảo: Ở đời quí nhất là cái tâm, cái tâm vốn trong sáng và giầu có: không một bóng tối nào lấn át được, không một thứ tiền của hay quyền lực nào sai bảo mình được, không ai có thể làm cho mình hèn được trừ ra chính mình. Có ai và có gì vùi dập mình xuống bùn được đâu" Mà giả như có bị nhận xuống bùn như những cây sen kia, thì lá vẫn xanh, hoa vẫn trắng, nhị vẫn vàng, như ca dao là hơi thở của Việt tộc vẫn chuyển diễn qua bao đời. Trong máu người mình có chất hào sảng như vậy rồi, vì vốn mang niềm tin như An Tiêm trong truyện thiêng Dưa Hấu: Trời sinh Trời dưỡng.

Niềm tin này là sức mạnh khiến người mình cứ bướng bỉnh bước tới với đầu cao mắt sáng dù bất cứ gì. Niềm tin này thật hài hòa với niềm tin Đạo Chúa qua Tin Vui tuần này: "Anh em đừng sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn... Hai con chim sẻ chỉ bán được một xu phải không" Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quí giá hơn muôn vàn chim sẻ." (Mt 10:28-31)

PHÚT BẬT SÁNG TỪ TÂM

Ở Mỹ có một ngày thật đẹp gọi là Ngày Vinh Danh Bố. Con nhớ Bố và muốn ghi ơn Bố. Trong dịp này con bỗng bắt gặp ánh mắt Bố cười qua mắt chàng Hải đạp xích lô trong phim Ba Mùa. Nét đặc biệt của Bố là cười bằng mắt. Khi Bố cười, khóe mắt bật bật như đẩy ra chất laser, có sức xua xa nỗi sợ và coi  mọi niềm đau là chuyện nhỏ. Bố còn sống hay đã qua đời thì Bố vẫn cười bằng mắt, khuyến khích con biết ngẩng đầu lên, nhất là bây giờ con đã sang Mỹ, có cơ may hơn Bố. Từ ánh mắt Bố, con cũng hiểu được sức mạnh của cõi tâm và sự giầu có của niềm tin trong mạch máu dân mình. Con muốn cùng Kiến An hát cho Bố nghe, cho Mẹ nghe, cho thầy Đào và cả con nghe nữa bài tiếp nối ca dao "đố ai quét sạch lá rừng, để ta khuyên gió gió đừng rung cây", trải dài hoa sen minh triết trong phim Ba Mùa:

 Đố tằm ăn mấy ruộng dâu

Đủ tơ xe áo lụa màu ngày xưa.

Đố trời đổ mấy cơn mưa

Để cho nước mắt ngập bờ đại dương.                       

 Lm. Trần Cao Tường

(Xin kính báo: Hộp thư [email protected]đã được hủy bỏ. Mọi liên hệ xin gởi về: [email protected]hoặc: [email protected]

Website www.dunglac.netđang được sửa chữa kỹ thuật

Xin cám ơn.)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.