Hôm nay,  

Chùa Ruộng

07/07/201000:00:00(Xem: 8715)

Chùa Ruộng

Sư cô Thích Nữ Liên Khai nơi sân chùa Dương Lệ Văn.


Vĩnh Hảo


Một đời sống ổn định là ước mơ đơn giản của con người, bất luận giàu hay nghèo. Một ngôi chùa có sinh hoạt ổn định là ngôi chùa có tăng hay ni trụ trì, hướng dẫn bá tánh tu tập.
Chùa Dương Lệ Văn không được như thế. Chùa này đã nhiều năm không có tăng hay ni đến; thảng hoặc có vị đến thì cũng chủ trì một đại lễ nào đó rồi cũng đi, không ở lại. Lý do không phải chỉ vì chùa nghèo không có phòng ốc nào dành cho tăng ni trú ngụ, mà còn vì cứ mỗi mùa mưa bão, chùa chìm ngập trong cánh đồng nước; có khi mực nước lên cao đến hai mét.
Năm nào có mưa lớn là chùa bị lụt. Đây là tình trạng thường xuyên của chùa cũng như của nhiều nhà cửa của dân chung quanh. Lý do là vì chùa nằm ở giữa một khoảng đồng ruộng thênh thang, đất thấp. Ở một vị trí như vậy, được cái là quanh năm hưởng không khí yên tĩnh, khoảng khoát vào mùa khô, nhưng hễ mưa lớn thì ngôi chùa trở thành “con thuyền bát-nhã” trôi giữa đồng nước mênh mông.


Quí ni bên hông căn bếp phía sau chánh điện chùa Dương Lệ Văn.

Chùa được đặt tên là Dương Lệ Văn. Nhìn bảng chùa khắc bằng chữ Hán trong một tấm hình thì chỉ thấy đề “Dương Văn Tự” (chùa Dương Văn), có lẽ là rút bớt chữ Lệ để tên chùa được gọn thành hai chữ như thông lệ của hầu hết các chùa Việt Nam. Tên cũng lạ, không gợi cho phật-tử một ý niệm nào về danh số, từ ngữ, thành ngữ hay điển tích Phật học nào. Tìm hiểu mới biết Dương Lệ Văn là tên của một làng thuộc xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Vậy có thể nói đây là chùa của làng, do dân trong làng lập nên từ xưa. Nhu cầu của dân làng có vẻ chỉ là một ngôi chánh điện thờ Phật để các ngày sóc vọng đến thắp nhang, lễ bái, khấn nguyện. Sau lưng ngôi chánh điện là một cái chái che bằng tôn, có lẽ được dùng làm bếp nấu vào những ngày dân làng tụ họp ở chùa.
Như thế, qua ngôi chùa, người ta có thể nhìn ra mực sống của phật-tử trong làng. Phật-tử nghèo, sống bằng nghề làm ruộng, nêm việc cúng dường, xây cất, cung ứng cho mọi sinh hoạt của chùa là bằng những hạt lúa và hoa màu thu gặt được từ ruộng vườn của họ. Nhiều năm qua, phật-tử địa phương chưa cung thỉnh được tăng ni nào để trực tiếp hướng dẫn việc tu học, tụng niệm; và cần nhất là hôm sớm có câu kinh tiếng kệ ấm cúng cảnh thiền môn. Dù vậy, một số phật-tử thuần thành trong làng vẫn siêng năng đến chùa tụng niệm vào mỗi tối, từ 80 đến 100 người; còn mỗi chiều chủ nhật, có Gia Đình Phật Tử sinh hoạt với khoảng 150 đoàn sinh. Với số người đến chùa thường xuyên ở mức đó, có thể xem là khá đông đảo, nhưng ngôi chùa mà thiếu hình bóng tăng ni giống như nhà không nóc.


Cảnh chung quanh chùa Dương Lệ Văn.


Duyên lành là một trong những phật-tử của chùa đi thăm bà con ở vùng kinh tế mới Bàu Cạn, đã tình cờ đến chùa ThanhTrì lễ bái, gặp Sư cô trụ trì Thích Nữ Liên Khai, trình bày nhu cầu của ban hộ tự chùa Dương Lệ Văn cần tăng ni hướng dẫn. Sư cô Thích Nữ Liên Khai hoan hỷ chấp thuận; sau đó, đáp lời mời của ban hộ tự, Sư cô đưa bốn vị đệ tử (trong đó có một vị tỳ kheo ni, một vị thức-xoa ma-na và hai tiểu ni) ra Quảng Trị để giúp.


Sư cô Thích Nữ Liên Khai đã từng dấn thân đến vùng kinh tế mới Bàu Cạn để hoằng pháp, nay đối với ngôi chùa ở vùng xa xôi nghèo khó đất Quảng Trị, cũng không chối từ. Đây là tâm nguyện cao đẹp, thật đáng tán dương. Trong thời gian đầu, Sư cô Liên Khai đích thân ra Quảng Trị để chăm sóc, hướng dẫn và giao dần cho vị đệ tử là Sư cô Thích Nữ Quảng Tâm trực tiếp đảm trách.
Đáng mừng, đáng vui cho ngôi chùa ở vùng ruộng đã có Ni chúng đến tiếp nhận, nhưng việc phát triển, tạo sinh hoạt ổn định và an toàn cho các Ni trẻ ở chùa này là điều mà Sư cô đang quan tâm mà e ngại, không dám trao đổi với ban hộ tự và phật-tử địa phương. Khi hoan hỷ tiếp nhận lãnh đạo tinh thần cho ngôi chùa, Sư cô không suy nghĩ cân nhắc gì; đến khi hiểu rõ hoàn cảnh tài chánh eo hẹp và điều kiện phòng ốc không bảo đảm cho các đệ tử tuổi trẻ của mình nếu xảy ra lụt lội, Sư cô cũng im lặng không nói ra, vì không muốn những ưu tư của mình trở thành gánh nặng cho phật-tử đồng quê nghèo khó.


Cảnh trước chùa, có một sân xi măng lý tưởng để… “phơi lúa”.

Trước mắt, phải lo phần kinh tế tự túc thế nào để Ni chúng không quá vất vả, và các sa-di được điều kiện thuận lợi để tiếp tục đi học. Nếu lấy việc làm ruộng làm căn bản cho kinh tế chùa, e rằng Ni chúng không còn nhiều thời gian để tu học. Thứ nữa, một Ni phòng hay Ni xá cũng cần phải xây dựng để có nơi nghỉ cho quí Ni thường trú, mà Ni xá này phải được xây trên nền cao, kiên cố để tránh hiểm nguy khi gặp mùa bão lụt, chứ không thể sử dụng căn chái lợp tôn tạm bợ phía sau chánh điện như hiện nay.
Từ phương xa, ngồi viết những giòng này là để nói thay Sư cô những điều không thể nói hết, kính gửi đến chư tôn đức và bạn đạo ở khắp nơi, xin mỗi người một tay góp phần công đức, duy trì và phát triển ngôi chùa của làng Dương Lệ Văn, hỗ trợ việc tu học cho các Ni trẻ cùng sinh hoạt giáo dục của Gia Đình Phật Tử địa phương.
Chùa Dương Lệ Văn, hãy gọi bằng một tên mộc mạc gần gũi với người dân quê và hoàn cảnh thực của nó là “Chùa Ruộng.” Giữa làng nước quê hương, mọc lên như một đóa sen tỏa ngời hương đạo. Hy vọng trong những mùa mưa bão sắp tới, không là ngôi chùa ngập trong ruộng nước; mà sẽ xứng đáng là ruộng phước để người hữu duyên gieo trồng và gặt hái những thành quả tốt đẹp của đạo vàng Như Lai.
California, ngày 05 tháng 7 năm 2010
Vĩnh Hảo
GHI CHÚ:
Tịnh tài đóng góp xây Ni xá hoặc cúng dường Ni chúng, xin liên lạc:
-- Sư cô Thích Nữ Quảng Tâm (Lê Thị Bích)
Chùa Dương Lệ Văn
Xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, Việt Nam
Điện thoại: 0533867034
Điện thoại di động: 0168.919.9284
Hoặc liên lạc, gửi tịnh tài qua trung gian:
-- Sư cô Thích Nữ Liên Khai (Nguyễn Thị Phương Hoa)
Chùa Thanh Trì
Xã Bàu Cạn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam
Điện thoại: 0613553151
(Chi phiếu hoặc tin nhắn khi chuyển tiền, xin ghi rõ ở phần Memo / Ghi chú:
“Cúng dường Ni xá và Ni chúng chùa Dương Lệ Văn”)
Thành kính tri ân và xin hồi hướng công đức cúng dường đến tất cả chúng sinh, nguyện thành Phật đạo.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.