Hôm nay,  

Trâu Chết Để Da

19/06/200800:00:00(Xem: 9379)
Người Việt Nam có câu "Trâu chết để da, người ta chết để tiếng". Làm chuyện tốt thì được tiếng thơm muôn đời. Làm chuyện xấu thì "trăm năm bia đá cũng mòn, nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ". Ngay như con trâu, sau khi chết, người ta lột da nó để lợp trống. Da tốt thì cái trống bền lâu, đánh lên kêu vang dội. Da xấu thì chỉ ít lâu tang trống bị rách,... đánh không kêu nữa.

Ông Võ Văn Kiệt vừa nằm xuống ở cái tuổi 86. Theo tiểu sử do đảng Cộng Sản Việt Nam cung cấp, thì ông đã "đi theo cách mạng" từ năm 16 tuổi và gia nhập đảng một năm sau đó. Với 69 năm tuổi đảng và trải qua bao biến cố, cùng 2 cuộc chiến tranh ác liệt, mà ông được chết già trên giường bệnh, thì quả là một điều hiếm thấy. Nói theo thuyết nhân quả thì "Phúc phần" nhà ông Kiệt khá lớn, và có thể do tích tụ từ cha, đời ông để lại. Nhưng, không biết kiếp này, phúc của ông có đủ dày, để dành cho con cháu hay cho kiếp sau của ông hay không "

Cho đến nay, ngoại trừ tại 4 nước còn bị cộng sản cai trị là Trung Hoa, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba, thì khắp nơi trên thế giới người ta đều biết rằng, cộng sản đồng nghĩa với độc tài, với phi dân chủ, với tội ác, với khủng bố... Nạn nhân bị các chế độ cộng sản tàn sát đã lên đến cả trăm triệu người. Nhưng, theo truyền thống dân tộc Việt Nam, "nghĩa tử là nghĩa tận", và khác với đảng Cộng Sản Việt Nam, dân ta không gán ép cho tất cả những ai theo đảng cộng sản là tội ác và khủng bố. Vì vậy, tuy ông Võ Văn Kệt đã từng là nhân vật thuộc hàng chóp bu của đảng cộng sản Việt Nam, và đã từng làm thủ tướng, nhưng với một số tư tưởng tiến bộ, so với giới lãnh đạo đương thời; sự ra đi của ông Võ Văn Kiệt đã gây nhiều xúc động trong dân chúng, và số người tự nguyện đưa tiễn ông đến nơi an nghỉ cuối cùng chắc là đông đảo. Đây là một chỉ dấu cho thấy tấm da trâu này cũng dùng được.

Tuy rằng lịch sử sẽ là nơi phê phán tối hậu, nhưng với một khuôn mặt nổi tiếng như ông Võ Văn Kiệt, thì đương nhiên đã có những phê phán về con người của ông từ lúc sinh thời, cũng như ngay sau khi ông vừa nằm xuống. Bởi vậy, bênh cạnh những lời sáo rỗng muộn màng của đảng cộng sản Việt Nam, người ta đã thấy rất nhiều phẩm bình của dư luận về ông, trong lúc Hà Nội còn đang lúng túng, chưa biết loan báo cái chết của ông như thế nào.

Nhìn chung thì dư luận khen cũng lắm, mà chê cũng nhiều. Người ta ca tụng ông Võ Văn Kiệt có công tiến hành "cuộc chuyển giao vĩ đại của một đất nước từ chiến tranh sang hoà bình, từ bao cấp sang đổi mới". Người ta gọi ông là nhà kiến trúc công trình "đổi mới". Là người đã can đảm đương đầu với đám lãnh đạo bảo thủ như Lê Đức Anh, Đỗ Mười... Người ta truyền tụng rằng, vào những năm sau năm 1975, ở cương vị là Bí Thư Thành Ủy Sài Gòn, ông Kiệt đã dũng cảm, đi ngược lại chủ trương của Hà Nội, để cứu đói cho dân Sài Gòn; lúc đó đang cùng cả nước bị thiếu đói vì những chính sách sai lầm của đảng cộng sản Việt Nam. Báo chí ngoại quốc đề cao ông Kiệt khi ở vị trí thủ tướng đã đưa Việt Nam ra khỏi cơn khủng hoảng tài chính, đã khuyến khuyến khích các xí nghiệp tư nhân làm ăn. Đặc biệt là việc ông đưa Việt Nam gia nhập khối ASEAN, vận động Hoa Kỳ bỏ cấm vận và mở bang giao với Hoa Thịnh Đốn. Cùng lúc kêu gọi các doanh nhân nước ngoài vào đầu tư vào Việt Nam. Ông Kiệt được đánh giá là vị thủ tướng năng động hơn hẳn những người tiền nhiệm của ông. Ông cũng được coi là một trường hợp hiếm có trong các nhà lãnh đạo cao cấp, dám tuyên bố công khai chống những sai lầm của hệ thống cộng sản....

Với dư luận Việt Nam, thì bên cạnh những lời khen tương tự, cũng không thiếu những chỉ trích dành cho ông Kiệt. Điểm đặc biệt là, sự phê bình này không chỉ đến từ những thành phần vốn dĩ không ưa cộng sản, mà hầu hết lại đến từ các diễn đàn của giới trẻ có học ở trong nước. Tuổi trẻ Việt Nam rất sòng phẳng, họ kính cẩn nghiêng mình trước sự ra đi của một bậc lão thành cách mạng; nhưng đối với họ, công, tội phải rạch ròi. Tuy ông Võ Văn Kiệt có một số công lao nhất định trong thời kỳ đổi mới, nhưng thực ra đó chỉ là xu thế mà ông buộc phải chạy theo, chứ chẳng phải sáng kiến tài tình nào của ông. Bởi vì, sau khi khối xã hội chủ nghĩa tan rã, để có thể tồn tại, cộng Sản Việt Nam không còn lựa chọn nào khác là phải chuyển hướng. Ông Kiệt cầm quyền ngay vào giai đoạn đó, nên phải nương theo. Cùng lúc đó, ông phải thủ thế, không dám thẳng thắn như ông Trần Xuân Bách, hầu không bị chính cái cơ chế của đảng gạt ra ngoài. Người ta cũng nghi ngờ về thực tâm của ông trong những bài viết hay tuyên bố có tính cách tiến bộ trong những năm gần đây của ông. Bởi vì chính ông là tác giả của nghị định 31/CP, một nghị định vô cùng phản tiến bộ. Đến nỗi sau này, do áp lực của thế giới, chính đảng cộng sản phải huỷ bỏ nó. Trong khi ông Kiệt lại không hề đả động đến lỗi lầm cùng những tai tiếng do nghị định vừa kể của ông gây ra. Bên cạnh đó, tuy ông đưa lời kêu gọi hoà giải giữa những người ở hai chiến tuyến trước đây, nhưng những kêu gọi đó của ông vẫn không ra khỏi lề thói trịch thượng của kẻ thắng ban phát cho người bại, mà ông muốn kêu gọi hoà giải. Điểm quan trọng nhất được vạch ra là, với những hiệp định dâng đất nhượng biển của cộng sản Việt nam cho Trung Quốc, rồì sự xâm lấn bờ cõi của nước đàn anh phương bắc, và sự nhu nhược của Cộng Sản Việt Nam, ông Võ Văn Kiệt đã không hề có lời nào đả động đến sự nhục nhã này. Cuối cùng, mặc dù không bị chỉ trích trực tiếp về sự tham ô nhũng lạm, nhưng người ta cũng đặt nhiều nghi vấn về những tài sản và các cơ sở làm ăn khổng lồ do vợ con ông đứng tên.

Tóm lại, tuy đã có khá nhiều lời khen, tiếng chê đối với ông Võ Văn Kiệt được dư luận đề cập đến khi ông vừa nằm xuống; nhưng chắc chắn là chưa đủ để đánh giá chính xác về con người của ông. Hiện nay có thể còn nhiều điều liên quan đến ông vẫn đang bị Cộng Sản Việt Nam dấu nhẹm. Cũng như có những sự kiện không được đưa ra mổ xẻ tường tận vì sự tế nhị trong lúc tang chế. Nhưng rồi đây lịch sử sẽ vô cùng công bình đối với ông. Và đến lúc đó người ta sẽ biết cái trống lợp bằng miếng da trâu này bền được bao lâu"

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cơn mưa phùn đêm qua còn đọng nước trên đường. Gió thu đã về. Lá vàng theo gió lác đác vài chiếc cuốn vào tận thềm hiên. Cây phong đầu ngõ lại chuẩn bị trổ sắc đỏ ối như mọi năm. Người đi xa từ những mùa thu trước, sẽ không trở về. Những người bạn lâu không gặp, thư gửi đi bị trả lại, nhắn tin điện thoại không thấy trả lời. Có lẽ cũng đã ra đi, không lời từ biệt. Đã có những cuộc ra đi rất lặng lẽ từ gần hai năm qua, không chỉ ở nơi đây, mà ở khắp toàn cầu. Ra đi bất ngờ, ra đi nhanh chóng. Không hoa tang. Không lễ nghi tôn giáo. Không lời ai điếu. Những túi bọc thi thể chất vội vào những thùng xe đông lạnh. Những thi hài quấn vải hoặc cuộn trong manh chiếu được chất trên những giàn củi, hỏa thiêu. Những chiếc quan tài được chôn lấp vội vàng trên đất công, với bia mộ đơn giản, không hình ảnh, ghi tên tuổi của một người già bệnh hay một người trẻ cường tráng, một người quyền quý hay một người bần cùng vô danh… Tất cả những người ra đi ấy, từ những nơi chốn khác nhau, thành thị hay
Hoá ra không phải chùm khế nào cũng ngọt. Quê hương, đôi khi, cũng thế. Cũng chua chát và đắng nghét đối với rất nhiều người mà tôi (chả may) là một. Cùng cả triệu dân Việt khác, tôi cũng đã có lúc hốt hoảng đâm sầm ra biển (dù không biết bơi) khi tóc hãy còn xanh. May mắn, tôi thoát chết. Lên lại được bờ, tôi đi lang thang tứ xứ cho mãi đến khi tóc đã đổi mầu nhưng vẫn chưa bao giờ trở về cố lý. Có kẻ tưởng là tôi chảnh, có mới nới cũ, có trăng quên đèn, quên cả cố hương. Không dám chảnh đâu. Tôi bị chúng “cấm cửa” mà!
Dù vậy, tôi vẫn cũng còn có đôi chút suy nghĩ lăn tăn. Hay nói theo ngôn ngữ của thi ca là vẫn (nghe) “sao có tiếng sóng ở trong lòng.” Chúng ta có nhất thiết phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để tạo nên một đống bùn bẩn thỉu nhầy nhụa như hiện tại không?
Một sự trùng hợp về thời gian 20 năm trong chiến tranh Việt Nam đã lập lại ở Afghanistan vào ngày 15/08/2021 với hình ảnh chiếc trực thăng di tản người Mỹ chạy thoát từ nóc Tòa Đại sứ Mỹ trong lúc phiến quân Taliban đã chiếm dinh Tổng thống không tốn một viên đạn, ngay sau khi Tổng thống Ashraf Ghani bỏ trốn ra nước ngoài.
Mùa Vu Lan hiếu hạnh – báo ân cha mẹ – là truyền thống lâu đời của người con hiếu thảo nhưng làm sao tạo được một cơ hội chia sẻ, an ủi và liên tưởng đến mặt phản diện của những đứa con bất hiếu chưa gặp duyên lành để biết ăn năn sám hối trở về với cha mẹ.
Nhận định của một số giới chức quân sự và chính trị cho đó là thất bại về tình báo từ phía Hoa Kỳ đã đánh giá sai về bộ đội cộng sản Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam, nay lại sai về quân Taliban ở Afghanistan khiến Mỹ phải vội vàng di tản. Hình ảnh máy bay trực thăng di tản người Mỹ và những người đã hợp tác với Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn cuối tháng Tư 1975 và ngày 15/8 vừa qua ra khỏi Kabul sẽ còn in dấu trong tâm thức người Mỹ và dư luận thế giới trong nhiều năm.
Trên Bloomberg Opinion ngày 26 tháng 04 năm 2021, một trong hai tác giả là Cựu Đô đốc James G. Stavridis, trình bày kịch bản này trong bài “Four Ways a China-US War at Sea Could Play Out” mà bản dịch sau đây sẽ giới thiệu. Theo Stavridis,“bốn điểm nóng” mà Hải quân Trung Quốc có khả năng tấn công là eo biển Đài Loan, Nhật Bản và Biển Hoa Đông, Biển Hoa Nam và các vùng biển xa hơn xung quanh các nước Indonesia, Singapore, Australia và Ấn Độ. Nhưng nguy cơ cao nhất là Đài Loan.
Đó là lý do cần nhắc sơ lại Hòa Ước Doha 2020, bởi nếu xem chính phủ Afghanistan là một "đồng minh" của Hoa Kỳ thì đồng minh này đã bị phản bội và bức tử ngay tháng Hai năm 2020 theo sau Hòa Ước Doha của nội các Donald Trump ký với Taliban chứ không phải hôm nay. Liệu có cần nhắc lại hòa đàm Paris vào năm 1973 đã dẫn đến sự sụp đổ báo trước của miền Nam Việt Nam vào tháng Tư năm 1975? Và giới sử gia thường nhắc lại vai trò của tổng thống Richard Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger trong việc bỏ rơi Nam Việt Nam chứ không phải tổng thống Gerald Ford, vị tổng thống Mỹ đương nhiệm năm 1975.
Theo dõi tin tức từ quốc gia này, tấm lòng của chúng tôi hướng về người dân Afghanistan và những người tị nạn đang bị buộc phải bỏ trốn để giữ mạng sống. Hơn nữa, chúng tôi tha thiết quan ngại đến số phận của hàng triệu phụ nữ và trẻ em gái của xứ sở này, vì họ phải đối diện với một tương lai đen tối khi gặp trở lại sự đối xử tàn tệ của nhà nước Taliban.
Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến. Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.