Hôm nay,  

Đêm Thánh Vô Cùng

17/12/201000:00:00(Xem: 10808)

Đêm Thánh Vô Cùng

Đỗ xuân Tê
Mùa Giáng sinh còn gọi là mùa Nô-en, một danh xưng phiên âm từ tiếng Pháp. Gọi là mùa nhưng thực ra là một ngày. Một ngày nhưng thực chất là một đêm, mà một đêm lại không giống những đêm thường. Các tín đồ, các văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ hay ca ngợi gọi đêm đó là Đêm Thánh  và một trong những bản nhạc đưọc phổ cập nhất là bản ‘O Holy Night’ có tên Việt là Đêm Thánh Vô Cùng thường được hát suốt mùa Giáng sinh từ nhiều thế kỷ qua. Riêng năm nay một bé gái người Mỹ tên Jackie Evancho mới 10 tuổi nhưng đã là một tài năng âm nhạc đáng nể. Album mới nhất của em mang tên bài hát bất hủ này chỉ trong một tuần đã bán ra 250,000 đĩa được coi là album đầu tay thành công nhất từ trước tới nay dành cho một ca sĩ chưa vào tuổi teen (nhưng đã đoạt giải á quân trong chương trình tuyển lựa tài năng của truyền hình Mỹ).
Đêm Nô-en tại những xứ thuộc bắc bán cầu trong đó có quê ta hay trùng vào tiết lập đông, một đêm thường không có trăng nhưng có nhiều sao, trong đó thế nào cũng có một ngôi sáng nhất. Theo truyền thuyết được ghi trong Thánh kinh thì đó là ánh sao dẫn đường cho ba thầy bác sĩ, một từ chỉ những người thông thái, được điềm báo trước đã từ phương Đông lặn lội đi tìm một đấng minh quân cai trị thế gian sắp ra đời tại một vùng sa mạc xứ Trung Đông. Ánh sao đêm soi đường cho suốt cuộc hành trình về sau quen gọi là Ngôi sao Bết-lê-hem, vì mầu nhiệm thay chính giờ phút giáng sinh của Chúa Hài đồng thì ngôi sao đã ‘trụ lại’ tại một thành nhỏ có tên là Bết-lê-hem, một địa danh gần thánh địa Giê-ru-sa-lem ngày nay, giữa một đêm khuya thanh vắng, bên một máng cỏ nơi đồng không mông quạnh, với các bầy cừu và đám chăn chiên trú đông. Chúa Giê-su đã sinh ra tại thành này trong sự im ắng thinh lặng cả về không gian lẫn thời gian khiến có người đã sáng tác bản ‘Đêm thinh lặng’ (Silent Night) thường được hát chung cùng ‘Đêm Thánh’ vào những mùa  Nô-en trên khắp địa cầu.
Ngày nay thế giới kỷ niệm ngày Chúa ra đời như một sự kiện mang  tính lễ hội, nhưng nếu lần về những chuyện tích từ thuở Thiên Chúa Giáng Sinh với câu hát dân gian mộc mạc ‘đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời… nằm trong hang đá nơi máng lừa...’ thì người ta mới chỉ cảm thương cho số phận cơ hàn của một hài nhi chào đời tại một vùng quê nơi thung sâu đồng vắng, mà chưa cảm nhận hết được sự diệu kỳ trong giờ khai hoa nở nhụy của người trinh nữ Ma-ri được Thiên Chúa chỉ định làm mẹ phần đời  của Chúa Giê-su vì vừa lúc Chúa Hài Đồng đến với thế gian thì “bỗng chúc có muôn ngàn thiên binh trên các tầng trời rất cao đồng thanh tụng ca sự kiện một Đấng Thánh ra đời mà thiên sứ đã rao báo trước đó là Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa”.


Bầu trời đêm đông tĩnh lặng bỗng như một vở kịch thay màn trở nên chói lòa, sáng láng tỏa ra từ các thiên sứ thánh khiến cảnh vật trần gian như được nối kết bởi ánh sáng thiên đàng trong sự vinh hiển của đất trời hòa hiệp chứng giám cho một một sự kiện có một không hai trên thế gian mà cả ngàn năm sau khi nhắc đến người ta vẫn ngợi ca đêm đó là Đêm Thánh Vô  Cùng vì hiện thân của hài nhi nơi máng cỏ chính là biểu tượng của Đấng Thánh Yêu Thương, và tin mừng giáng sinh trở thành Ơn Thánh  Cứu Rỗi cho chúng sinh trên đất.
Trải  qua bao nhiêu thế đại chuyện tích Giáng sinh cũng chỉ xoay quanh hình ảnh Chúa Cứu Thế - hiện thân con một của Đấng Chí Cao - xuống trần gian này chẳng phải để làm Vua cai trị thế gian như người đời lầm tưởng, mà sứ mạng của Ngài trong thân xác thế nhân chỉ để làm một việc là cứu loài người thoát ra khỏi cảnh trầm luân, mà sự hy sinh của Ngài trên thập tự giá là cái giá cuối cùng phải trả cho tội lỗi thế gian.
Từ đấy người ta nhận biết Ngài là Đấng Cứu Thế, người ta thờ phượng Ngài vì họ tin Ngài là con của Đức Chúa Trời. Người ta thương cảm Ngài vì đã sinh ra trong cảnh bần hàn nơi chuồng chiên máng cỏ, làm con trong một gia đình có người cha phần đời là người thợ mộc, có mẹ phần đời là một thôn nữ nết na. Người ta xót xa cho Ngài vì suốt quãng đời ngắn ngủi trên trần thế đã trải nghiệm bao khốn khó, bị đòn roi trên thân thể, bị tát bị vả trên mặt, bị sỉ nhục mắng nhiếc, bị đe dọa săn đuổi. Người ta trân trọng Ngài vì những điều dạy dỗ của Ngài luôn cổ xúy cho tình yêu thương cho niềm bác ái, biết thương người nghèo khó, kẻ góa bụa, cởi ách cho người  bị áp bức, thương cảm cho người  đau ốm tật nguyền. Dù được hiểu là con Thiên Chúa nhưng Ngài vẫn được người đời xưng tụng là Đấng Lạ Lùng, là Cha Đời Đời, là Chúa Bình An, là Vua trên muôn vua, là Chúa trên muôn chúa, là niềm Tin Yêu và Hy Vọng, là Vầng Đá Muôn đời cho những kẻ tin Ngài làm chốn nương thân.
Trải qua hơn hai ngàn năm, hãy còn nhiều người vẫn chưa biết Chúa, nhưng trong họ khi mỗi dịp kỷ niệm ngày Chúa Giáng sinh tự thân cũng cảm nhận được điều gì đó về một Đấng Thánh, vì chẳng phải ngẫu nhiên sự ra đời của một hài nhi lại làm thay đổi cả tiến trình lịch sử nhân loại khi dòng thời gian từ buổi Sáng thế bỗng nhiên chia đôi thành hai kỷ nguyên: ‘trước’ & ‘sau’ Thiên Chúa (B.C.& A.D.). Cho nên trong niềm hân hoan của mùa Giáng sinh năm nay, dù là những người tin hay chưa tin Chúa, ta hãy cùng cộng đồng nhân loại lắng lòng mình hướng về Đêm Thánh năm xưa để theo dấu chân Chúa Hài Đồng tìm về những giá trị tâm linh của món quà vô giá khi chính vị Cha chung ở trên trời đã vì loài người mà sai con một của mình xuống thế gian làm của hy sinh cho hồng ân cứu rỗi trải đều cho muôn dân trên đất.
Mùa Nô-en 2010
Đỗ xuân Tê

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trận Điện Biên Phủ kết thúc vào hôm 7 tháng 5 năm 1954. Bẩy mươi năm đã qua nhưng dư âm chiến thắng, nghe chừng, vẫn còn âm vang khắp chốn. Tại một góc phố, ở Hà Nội, có bảng tên đường Điện Biên Phủ – cùng với đôi dòng chú thích đính kèm – ghi rõ nét tự hào và hãnh diện: “Tên địa danh thuộc tỉnh Lai Châu, nơi diễn ra trận đánh quyết liệt của quân và dân ta tiêu diệt tập đoàn cứ điểm thực dân Pháp kéo dài 55 ngày đêm”.
JD Vance đã chứng tỏ một “đẳng cấp” khác, rất “Yale Law School” so với thương gia bán kinh thánh, giày vàng, đồng hồ vàng, Donald Trump. Rõ ràng, về phong cách, JD Vance đã tỏ ra lịch sự, tự tin – điều mà khi khởi đầu, Thống đốc Walz chưa làm được. Vance đã đạt đến “đỉnh” của mục tiêu ông ta muốn: lý trí, ôn hoà, tỉnh táo hơn Donald Trump. “Đẳng cấp” này đã làm cho Thống Đốc Tim Walz, người từng thẳng thắn tự nhận “không giỏi tranh luận” phải vài lần phải trợn mắt, bối rối trong 90 phút. Cho dù hầu như trong tất cả câu hỏi, ông đã làm rất tốt trong việc phản biện lại những lời nói dối của JD Vance, đặc biệt là câu chất vất hạ gục đối thủ ở phút cuối: “Trump đã thua trong cuộc bầu cử 2020 đúng không?” JD Vance đáp lại câu hỏi này của Tim Walz bằng hàng loạt câu trả lời né tránh và phủ nhận sự thật. Và dĩ nhiên, rất “slick.” “Trump đã chuyển giao quyền lực rất ôn hoà.” Cả thế giới có thể luận bàn về sự thật trong câu trả lời này.
Phải nhìn nhận rằng chuyến đi đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Mỹ đã được giới chức ngoại giao Việt Nam thu xếp để ông gặp được nhiều lãnh đạo, xem như xã giao ra mắt để hợp tác, hỗ trợ Việt Nam trong nhiều lãnh vực trong tương lai. Bài diễn văn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc chỉ lặp lại các chính sách đối ngoại của Hà Nội, nên không được truyền thông quốc tế chú ý nhiều như các diễn văn của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, là đại diện cho những quốc gia trực tiếp liên can đến các xung đột ở Trung Đông, ở Ukraine mà có nguy cơ lan rộng ra thế giới. Ông Lâm mới lên làm chủ tịch nước kiêm tổng bí thư Đảng Cộng sản được vài tháng, sau khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng qua đời, nên ông muốn dịp đến Liên Hiệp Quốc là dịp để thể hiện vai trò lãnh đạo của mình và nhấn mạnh đến chính sách ngoại giao du dây của Hà Nội.
Sự bất mãn lan rộng với các hệ thống thuộc chủ nghĩa tư bản hiện tại đã khiến nhiều quốc gia, giàu và nghèo, tìm kiếm các mô hình kinh tế mới. Những người bảo vệ nguyên trạng tiếp tục coi Hoa Kỳ là một ngôi sao sáng, nền kinh tế của nước này vượt xa châu Âu và Nhật Bản, các thị trường tài chính của nước này vẫn chiếm ưu thế hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, công dân của nước này cũng bi quan như bất kỳ công dân nào ở phương Tây.
Sau 38 năm quyết định “đổi mới hay là chết” (1986-2924) CSVN vẫn còn là quốc gia do một đảng độc quyền lãnh đạo; không có bầu cử tự do; không cho lập đảng đối lập và không có báo chí tư nhân. Vì vậy, những khẩu hiệu “nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”, hay “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” được Đại hội lần thứ X khẳng định là những khoe khoang nhàm chán...
Việc Donald Trump được gần phân nửa người Mỹ chấp nhận và ủng hộ trong những năm gần đây đã khiến nhiều người trí thức trong xã hội Hoa Kỳ đặt câu hỏi về sự tồn tại của “human decency”, hay dịch nôm na là “sự đàng hoàng, sự tử tế, đạo đức nhân tính của con người”. Liệu xã hội ngày nay đã hạ thấp chuẩn mực “đàng hoàng”, hay có thể nào sự đàng hoàng, tử tế giờ đây không còn là một nhân tính cần thiết trong giá trị nhân bản? Dĩ nhiên trong mỗi xã hội, mỗi người có mỗi “thước đo” riêng về mức độ của “đàng hoàng”, nhưng từ ngữ tự nó phải phần nào nói lên một chuẩn mực nhất định. Theo một số tự điển tiếng Việt, chúng ta có thể đồng ý rằng: 1. Đàng hoàng là một tính từ tiếng Việt mô tả cuộc sống đầy đủ, đáp ứng được các nhu cầu chung của xã hội. Ví dụ: cuộc sống đàng hoàng, công việc đàng hoàng, nhà cửa đàng hoàng. 2. Đàng hoàng còn được dùng để chỉ những biểu hiện về tính cách mẫu mực, hay tư cách con người tử tế đáng được coi trọng.
Thư tịch cổ ghi rằng… Lịch sử trên thế giới thật sự rất hiếm người tài vừa là vua đứng đầu thiên hạ vừa là một hiền triết. Nếu văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations” thì ở phương Đông hơn mười hai thế kỷ sau có Vua Trần Nhân Tông của nước Việt. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, triều đại của Vua Trần Nhân Tông là triều đại cực thịnh nhất của sử Việt. Ông là vị vua liêm chính, nhân đức, một thi sĩ, đạo sĩ Phật giáo. Do là một vị vua đức độ, trọng dụng nhân tài, nên ông thu phục nhiều hào liệt trong dân, lòng người như một. Quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật…Về văn thơ có những người uyên bác như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Vua Trần Nhân Tông thương dân như con, xem trung hiếu làm đầu, lấy đạo nghĩa trị quốc.
Biển Đông hiện như một thùng thuốc súng và, liệu nếu xung đột bùng ra, chúng ta có phải đối phó với một quân đội Trung Quốc man rợ mà, so với quân đội Thiên hoàng Nhật trong Thế chiến thứ hai, chỉ có thể hơn chứ khó mà bằng, đừng nói chuyện thua? Như có thể thấy từ tin tức thời sự, cảnh lính Trung Quốc vác mã tấu xông lên tàu tiếp tế của Philippines chém phá trông man rợ có khác nào quân cướp biển từ tận hai, ba thế kỷ trước? [1] Rồi cảnh chúng – từ chính quy đến dân quân biển, thậm chí cả ngư dân – trấn lột, cướp phá, hành hung và bắt cóc các ngư phủ Việt Nam từ hơn ba thập niên qua cũng thế, cũng chính hiệu là nòi cướp biển.
Hội nghị Trung ương 10/khóa đảng XIII kết thúc sau 3 ngày họp (18-20/09/2024) tại Hà Nội nhưng không có đột phá nào, mọi chuyện vẫn “tròn như hòn bi” dù đây là hành động đầu tiên của tân Tổng Bí thư Tô Lâm...
Việc nhà hoạt động dân chủ Trần Huỳnh Duy Thức được nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do trước thời hạn có lẽ là một trong những vấn đề đã được nội các chính quyền Biden-Harris quan tâm và vận động từ năm 2021.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.