Hôm nay,  

Đêm Thánh Vô Cùng

17/12/201000:00:00(Xem: 10874)

Đêm Thánh Vô Cùng

Đỗ xuân Tê
Mùa Giáng sinh còn gọi là mùa Nô-en, một danh xưng phiên âm từ tiếng Pháp. Gọi là mùa nhưng thực ra là một ngày. Một ngày nhưng thực chất là một đêm, mà một đêm lại không giống những đêm thường. Các tín đồ, các văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ hay ca ngợi gọi đêm đó là Đêm Thánh  và một trong những bản nhạc đưọc phổ cập nhất là bản ‘O Holy Night’ có tên Việt là Đêm Thánh Vô Cùng thường được hát suốt mùa Giáng sinh từ nhiều thế kỷ qua. Riêng năm nay một bé gái người Mỹ tên Jackie Evancho mới 10 tuổi nhưng đã là một tài năng âm nhạc đáng nể. Album mới nhất của em mang tên bài hát bất hủ này chỉ trong một tuần đã bán ra 250,000 đĩa được coi là album đầu tay thành công nhất từ trước tới nay dành cho một ca sĩ chưa vào tuổi teen (nhưng đã đoạt giải á quân trong chương trình tuyển lựa tài năng của truyền hình Mỹ).
Đêm Nô-en tại những xứ thuộc bắc bán cầu trong đó có quê ta hay trùng vào tiết lập đông, một đêm thường không có trăng nhưng có nhiều sao, trong đó thế nào cũng có một ngôi sáng nhất. Theo truyền thuyết được ghi trong Thánh kinh thì đó là ánh sao dẫn đường cho ba thầy bác sĩ, một từ chỉ những người thông thái, được điềm báo trước đã từ phương Đông lặn lội đi tìm một đấng minh quân cai trị thế gian sắp ra đời tại một vùng sa mạc xứ Trung Đông. Ánh sao đêm soi đường cho suốt cuộc hành trình về sau quen gọi là Ngôi sao Bết-lê-hem, vì mầu nhiệm thay chính giờ phút giáng sinh của Chúa Hài đồng thì ngôi sao đã ‘trụ lại’ tại một thành nhỏ có tên là Bết-lê-hem, một địa danh gần thánh địa Giê-ru-sa-lem ngày nay, giữa một đêm khuya thanh vắng, bên một máng cỏ nơi đồng không mông quạnh, với các bầy cừu và đám chăn chiên trú đông. Chúa Giê-su đã sinh ra tại thành này trong sự im ắng thinh lặng cả về không gian lẫn thời gian khiến có người đã sáng tác bản ‘Đêm thinh lặng’ (Silent Night) thường được hát chung cùng ‘Đêm Thánh’ vào những mùa  Nô-en trên khắp địa cầu.
Ngày nay thế giới kỷ niệm ngày Chúa ra đời như một sự kiện mang  tính lễ hội, nhưng nếu lần về những chuyện tích từ thuở Thiên Chúa Giáng Sinh với câu hát dân gian mộc mạc ‘đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời… nằm trong hang đá nơi máng lừa...’ thì người ta mới chỉ cảm thương cho số phận cơ hàn của một hài nhi chào đời tại một vùng quê nơi thung sâu đồng vắng, mà chưa cảm nhận hết được sự diệu kỳ trong giờ khai hoa nở nhụy của người trinh nữ Ma-ri được Thiên Chúa chỉ định làm mẹ phần đời  của Chúa Giê-su vì vừa lúc Chúa Hài Đồng đến với thế gian thì “bỗng chúc có muôn ngàn thiên binh trên các tầng trời rất cao đồng thanh tụng ca sự kiện một Đấng Thánh ra đời mà thiên sứ đã rao báo trước đó là Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa”.


Bầu trời đêm đông tĩnh lặng bỗng như một vở kịch thay màn trở nên chói lòa, sáng láng tỏa ra từ các thiên sứ thánh khiến cảnh vật trần gian như được nối kết bởi ánh sáng thiên đàng trong sự vinh hiển của đất trời hòa hiệp chứng giám cho một một sự kiện có một không hai trên thế gian mà cả ngàn năm sau khi nhắc đến người ta vẫn ngợi ca đêm đó là Đêm Thánh Vô  Cùng vì hiện thân của hài nhi nơi máng cỏ chính là biểu tượng của Đấng Thánh Yêu Thương, và tin mừng giáng sinh trở thành Ơn Thánh  Cứu Rỗi cho chúng sinh trên đất.
Trải  qua bao nhiêu thế đại chuyện tích Giáng sinh cũng chỉ xoay quanh hình ảnh Chúa Cứu Thế - hiện thân con một của Đấng Chí Cao - xuống trần gian này chẳng phải để làm Vua cai trị thế gian như người đời lầm tưởng, mà sứ mạng của Ngài trong thân xác thế nhân chỉ để làm một việc là cứu loài người thoát ra khỏi cảnh trầm luân, mà sự hy sinh của Ngài trên thập tự giá là cái giá cuối cùng phải trả cho tội lỗi thế gian.
Từ đấy người ta nhận biết Ngài là Đấng Cứu Thế, người ta thờ phượng Ngài vì họ tin Ngài là con của Đức Chúa Trời. Người ta thương cảm Ngài vì đã sinh ra trong cảnh bần hàn nơi chuồng chiên máng cỏ, làm con trong một gia đình có người cha phần đời là người thợ mộc, có mẹ phần đời là một thôn nữ nết na. Người ta xót xa cho Ngài vì suốt quãng đời ngắn ngủi trên trần thế đã trải nghiệm bao khốn khó, bị đòn roi trên thân thể, bị tát bị vả trên mặt, bị sỉ nhục mắng nhiếc, bị đe dọa săn đuổi. Người ta trân trọng Ngài vì những điều dạy dỗ của Ngài luôn cổ xúy cho tình yêu thương cho niềm bác ái, biết thương người nghèo khó, kẻ góa bụa, cởi ách cho người  bị áp bức, thương cảm cho người  đau ốm tật nguyền. Dù được hiểu là con Thiên Chúa nhưng Ngài vẫn được người đời xưng tụng là Đấng Lạ Lùng, là Cha Đời Đời, là Chúa Bình An, là Vua trên muôn vua, là Chúa trên muôn chúa, là niềm Tin Yêu và Hy Vọng, là Vầng Đá Muôn đời cho những kẻ tin Ngài làm chốn nương thân.
Trải qua hơn hai ngàn năm, hãy còn nhiều người vẫn chưa biết Chúa, nhưng trong họ khi mỗi dịp kỷ niệm ngày Chúa Giáng sinh tự thân cũng cảm nhận được điều gì đó về một Đấng Thánh, vì chẳng phải ngẫu nhiên sự ra đời của một hài nhi lại làm thay đổi cả tiến trình lịch sử nhân loại khi dòng thời gian từ buổi Sáng thế bỗng nhiên chia đôi thành hai kỷ nguyên: ‘trước’ & ‘sau’ Thiên Chúa (B.C.& A.D.). Cho nên trong niềm hân hoan của mùa Giáng sinh năm nay, dù là những người tin hay chưa tin Chúa, ta hãy cùng cộng đồng nhân loại lắng lòng mình hướng về Đêm Thánh năm xưa để theo dấu chân Chúa Hài Đồng tìm về những giá trị tâm linh của món quà vô giá khi chính vị Cha chung ở trên trời đã vì loài người mà sai con một của mình xuống thế gian làm của hy sinh cho hồng ân cứu rỗi trải đều cho muôn dân trên đất.
Mùa Nô-en 2010
Đỗ xuân Tê

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từ 20 năm qua (2004-2024), vấn đề hợp tác giữa người Việt Nam ở nước ngoài và đảng CSVN không ngừng được thảo luận, nhưng “đoàn kết dân tộc” vẫn là chuyện xa vời. Nguyên nhân còn ngăn cách cơ bản và quan trọng nhất vì đảng Cộng sản không muốn từ bỏ độc quyền cai trị, và tiếp tục áp đặt Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh “làm nền tảng xây dựng đất nước”...
Cái ông Andropov (“nào đó”) nghe tên cũng có vẻ quen quen nhưng nhất thời thì tôi không thể nhớ ra được là ai. Cả ủy ban nhân dân Rạch Gốc và nhà văn Nguyên Ngọc cũng vậy, cũng bù trất, không ai biết thằng chả ở đâu ra nữa. Tuy vậy, cả nước, ai cũng biết rằng trong cái thế giới “bốn phương vô sản đều là anh em” thì bất cứ đồng chí lãnh đạo (cấp cao) nào mà chuyển qua từ trần thì đều “thuộc diện quốc tang” ráo trọi – bất kể Tây/Tầu.
Việt Nam và Trung Quốc đã ký 14 Văn kiện hợp tác an ninh Chính trị, Kinh tế-Thương mại và Văn hóa-Báo chí trong chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của Tổng Bí thư Tô Lâm từ ngày 18 đến 20/08/2024. Trong số này, Văn kiện kết nối và thiết lập 3 Tuyến đường sắt giữa hai nước được gọi là “anh em” đã giúp Trung Quốc liên thông ra Biển Đông và bành trướng thế lực kinh tế...
Tại Campuchia, kênh đào Phù Nam Techo, trị giá 1,7 tỷ USD sẽ kết nối Phnom Penh và Vịnh Thái Lan, tượng trưng cho niềm tự hào dân tộc, an ninh và kết nối thương mại quốc tế. Người ta có thể cảm thấy như thế qua lời tuyên bố của Thủ tướng Campuchia Hun Manet và của ông Hun Sen, trong cương vị cố vấn, người đã chuyển giao quyền lực từ cha sang con vào năm ngoái...
Danh từ được tác giả dùng trong bài này không phải là danh từ theo tự loại mà là một thuật ngữ của Việt Cộng. Thuật ngữ Việt Công hay là danh từ Việt Cộng là những thuật ngữ, những từ được dùng trong nước dưới chính quyền Cộng sản Việt Nam. Ở trong nước người ta không dùng từ “Việt Cộng” mặc dầu Việt Cộng chỉ có ý nghĩa là Cộng Sản Việt Nam chớ không có nghĩa gì khác. Phải nói rõ ràng và dài dòng như vậy để tránh hiểu lầm và hiểu sai. Những danh từ đề cập trong bài viết này đa số là những danh từ kinh tế, vì chủ đề của bài viết là kinh tế, phân tích những ván đề kinh tế, nhận định về kinh tế chớ không phải chính trị, mặc dầu kinh tế không thể tách rời khỏi chính trị, xuất phát từ chính trị và tác động trở lại đời sống của mỗi con người chúng ta.
“Tôi hơi chậm hiểu lại rất chóng quên nên dù đã lê lết qua hơi nhiều trường ốc (trong cũng như ngoài nước) nhưng trình độ học vấn và kiến thức cũng chả̉ tới đâu, vẫn chỉ ở mức làng nhàng. Nói tóm lại là thuộc loại “xoàng”! Ơ! “Xoàng” thì đã sao nhỉ? Cũng không đến nỗi trăng/sao gì đâu, nếu tôi biết điều (biết chuyện – biết thân – biết phận) hơn chút xíu. Khổ nỗi, tôi lại cứ tưởng là mình cũng thuộc loại đầu óc trung bình (hoặc chỉ dưới mức đó không xa lắm) nên ghi danh học – tùm lum/tùm la – đủ thứ phân khoa: Triết Lý, Tâm Lý, Xã Hội, Nhân Chủng …
Một bài viết ngay sau khi được bầu vào chức Tổng Bí thư đảng CSVN cho thấy ông Tô Lâm đã hiện nguyên hình một người giáo điều, bảo thủ và hoài nghi trong “hợp tác quốc tế” với các nước. Trước hết ông cáo giác: “Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.” Lời tố cáo này không mới vì chỉ “nói cho có” và “không trưng ra được bằng chứng cụ thể nào”, giống hệt như những người tiền nhiệm...
- Mình lúc này không muốn theo dõi tin tức nữa. Mệt lắm. - Mình cũng vậy, không đọc báo, chỉ xem phim hoặc nghe thuyết pháp, tránh nhức đầu. - Đời người ngắn ngủi, sao phải tốn thì giờ… - Ở tuổi này, chuyện gì không vui xin miễn, tội gì phải đọc tin tức rồi tự mình làm khổ mình. Trong những năm gần đây, những phát biểu đại loại như trên từ bạn bè khiến những người trong ngành chúng tôi đôi lúc không khỏi ngán ngẫm về công việc báo chí của mình, một việc làm nếu đã không được tưởng thưởng tài chánh tương xứng, thì phần thưởng tinh thần từ ý nghĩa tự nó cũng không đủ bù đắp. Đọc báo hay không đọc báo?
Hồi đầu thế kỷ, có bữa, tôi nhận được thư của Vũ Thư Hiên. Ông hớn hở cho hay “Anh Tấn sắp sang Pháp chơi với anh vài tuần”. Thuở ấy, hai ông còn khá trẻ trung (và còn sung lắm) nên chắc chắn là đôi bạn già sẽ đi lung tung khắp Âu Châu, chứ dễ gì mà chịu quanh quẩn ở Paris. Mãi cả chục năm sau, sau khi nhà văn Bùi Ngọc Tấn lâm trọng bệnh, tôi mới nghe ông nhắc đến chuyến du hành thú vị này (với ít nhiều tiếc nuối) trong một cuộc phỏng vấn dành cho BBC – vào hôm 14 tháng 11 năm 2014: “Sang châu Âu, tôi quan sát dáng người đi, nét mặt của họ khác dân mình lắm… Đi thì mới biết mình bị mất những gì.”
Chủ tịch nước Tô Lâm được bầu làm Tổng Bí thư đảng CSVN, thay ông Nguyễn Phú Trọng từ trần ngày 19/07/2024, nhưng ông Tô Lâm chỉ dám hứa sẽ tiếp tục đi theo con đường ông Trọng đã đề ra...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.