Hôm nay,  

Đêm Thánh Vô Cùng

17/12/201000:00:00(Xem: 10809)

Đêm Thánh Vô Cùng

Đỗ xuân Tê
Mùa Giáng sinh còn gọi là mùa Nô-en, một danh xưng phiên âm từ tiếng Pháp. Gọi là mùa nhưng thực ra là một ngày. Một ngày nhưng thực chất là một đêm, mà một đêm lại không giống những đêm thường. Các tín đồ, các văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ hay ca ngợi gọi đêm đó là Đêm Thánh  và một trong những bản nhạc đưọc phổ cập nhất là bản ‘O Holy Night’ có tên Việt là Đêm Thánh Vô Cùng thường được hát suốt mùa Giáng sinh từ nhiều thế kỷ qua. Riêng năm nay một bé gái người Mỹ tên Jackie Evancho mới 10 tuổi nhưng đã là một tài năng âm nhạc đáng nể. Album mới nhất của em mang tên bài hát bất hủ này chỉ trong một tuần đã bán ra 250,000 đĩa được coi là album đầu tay thành công nhất từ trước tới nay dành cho một ca sĩ chưa vào tuổi teen (nhưng đã đoạt giải á quân trong chương trình tuyển lựa tài năng của truyền hình Mỹ).
Đêm Nô-en tại những xứ thuộc bắc bán cầu trong đó có quê ta hay trùng vào tiết lập đông, một đêm thường không có trăng nhưng có nhiều sao, trong đó thế nào cũng có một ngôi sáng nhất. Theo truyền thuyết được ghi trong Thánh kinh thì đó là ánh sao dẫn đường cho ba thầy bác sĩ, một từ chỉ những người thông thái, được điềm báo trước đã từ phương Đông lặn lội đi tìm một đấng minh quân cai trị thế gian sắp ra đời tại một vùng sa mạc xứ Trung Đông. Ánh sao đêm soi đường cho suốt cuộc hành trình về sau quen gọi là Ngôi sao Bết-lê-hem, vì mầu nhiệm thay chính giờ phút giáng sinh của Chúa Hài đồng thì ngôi sao đã ‘trụ lại’ tại một thành nhỏ có tên là Bết-lê-hem, một địa danh gần thánh địa Giê-ru-sa-lem ngày nay, giữa một đêm khuya thanh vắng, bên một máng cỏ nơi đồng không mông quạnh, với các bầy cừu và đám chăn chiên trú đông. Chúa Giê-su đã sinh ra tại thành này trong sự im ắng thinh lặng cả về không gian lẫn thời gian khiến có người đã sáng tác bản ‘Đêm thinh lặng’ (Silent Night) thường được hát chung cùng ‘Đêm Thánh’ vào những mùa  Nô-en trên khắp địa cầu.
Ngày nay thế giới kỷ niệm ngày Chúa ra đời như một sự kiện mang  tính lễ hội, nhưng nếu lần về những chuyện tích từ thuở Thiên Chúa Giáng Sinh với câu hát dân gian mộc mạc ‘đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời… nằm trong hang đá nơi máng lừa...’ thì người ta mới chỉ cảm thương cho số phận cơ hàn của một hài nhi chào đời tại một vùng quê nơi thung sâu đồng vắng, mà chưa cảm nhận hết được sự diệu kỳ trong giờ khai hoa nở nhụy của người trinh nữ Ma-ri được Thiên Chúa chỉ định làm mẹ phần đời  của Chúa Giê-su vì vừa lúc Chúa Hài Đồng đến với thế gian thì “bỗng chúc có muôn ngàn thiên binh trên các tầng trời rất cao đồng thanh tụng ca sự kiện một Đấng Thánh ra đời mà thiên sứ đã rao báo trước đó là Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa”.


Bầu trời đêm đông tĩnh lặng bỗng như một vở kịch thay màn trở nên chói lòa, sáng láng tỏa ra từ các thiên sứ thánh khiến cảnh vật trần gian như được nối kết bởi ánh sáng thiên đàng trong sự vinh hiển của đất trời hòa hiệp chứng giám cho một một sự kiện có một không hai trên thế gian mà cả ngàn năm sau khi nhắc đến người ta vẫn ngợi ca đêm đó là Đêm Thánh Vô  Cùng vì hiện thân của hài nhi nơi máng cỏ chính là biểu tượng của Đấng Thánh Yêu Thương, và tin mừng giáng sinh trở thành Ơn Thánh  Cứu Rỗi cho chúng sinh trên đất.
Trải  qua bao nhiêu thế đại chuyện tích Giáng sinh cũng chỉ xoay quanh hình ảnh Chúa Cứu Thế - hiện thân con một của Đấng Chí Cao - xuống trần gian này chẳng phải để làm Vua cai trị thế gian như người đời lầm tưởng, mà sứ mạng của Ngài trong thân xác thế nhân chỉ để làm một việc là cứu loài người thoát ra khỏi cảnh trầm luân, mà sự hy sinh của Ngài trên thập tự giá là cái giá cuối cùng phải trả cho tội lỗi thế gian.
Từ đấy người ta nhận biết Ngài là Đấng Cứu Thế, người ta thờ phượng Ngài vì họ tin Ngài là con của Đức Chúa Trời. Người ta thương cảm Ngài vì đã sinh ra trong cảnh bần hàn nơi chuồng chiên máng cỏ, làm con trong một gia đình có người cha phần đời là người thợ mộc, có mẹ phần đời là một thôn nữ nết na. Người ta xót xa cho Ngài vì suốt quãng đời ngắn ngủi trên trần thế đã trải nghiệm bao khốn khó, bị đòn roi trên thân thể, bị tát bị vả trên mặt, bị sỉ nhục mắng nhiếc, bị đe dọa săn đuổi. Người ta trân trọng Ngài vì những điều dạy dỗ của Ngài luôn cổ xúy cho tình yêu thương cho niềm bác ái, biết thương người nghèo khó, kẻ góa bụa, cởi ách cho người  bị áp bức, thương cảm cho người  đau ốm tật nguyền. Dù được hiểu là con Thiên Chúa nhưng Ngài vẫn được người đời xưng tụng là Đấng Lạ Lùng, là Cha Đời Đời, là Chúa Bình An, là Vua trên muôn vua, là Chúa trên muôn chúa, là niềm Tin Yêu và Hy Vọng, là Vầng Đá Muôn đời cho những kẻ tin Ngài làm chốn nương thân.
Trải qua hơn hai ngàn năm, hãy còn nhiều người vẫn chưa biết Chúa, nhưng trong họ khi mỗi dịp kỷ niệm ngày Chúa Giáng sinh tự thân cũng cảm nhận được điều gì đó về một Đấng Thánh, vì chẳng phải ngẫu nhiên sự ra đời của một hài nhi lại làm thay đổi cả tiến trình lịch sử nhân loại khi dòng thời gian từ buổi Sáng thế bỗng nhiên chia đôi thành hai kỷ nguyên: ‘trước’ & ‘sau’ Thiên Chúa (B.C.& A.D.). Cho nên trong niềm hân hoan của mùa Giáng sinh năm nay, dù là những người tin hay chưa tin Chúa, ta hãy cùng cộng đồng nhân loại lắng lòng mình hướng về Đêm Thánh năm xưa để theo dấu chân Chúa Hài Đồng tìm về những giá trị tâm linh của món quà vô giá khi chính vị Cha chung ở trên trời đã vì loài người mà sai con một của mình xuống thế gian làm của hy sinh cho hồng ân cứu rỗi trải đều cho muôn dân trên đất.
Mùa Nô-en 2010
Đỗ xuân Tê

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sau 13 năm, cuối cùng thì Bác sĩ David Sinclair và các đồng nghiệp đã tìm được câu trả lời cho câu hỏi: Điều gì thúc đẩy quá trình lão hóa? Trong một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Cell vào ngày 12 tháng 1 năm 2023, Sinclair, giáo sư di truyền học và đồng giám đốc của Paul F. Glenn Center for Biology of Aging Research tại Trường Y Harvard (Harvard Medical School), đã phác họa ra một chiếc đồng hồ lão hóa, khi ta vặn chiều kim là có thể đẩy nhanh hoặc đảo ngược quá trình lão hóa của các tế bào.
Lời báo động muộn màng này cũng đã giúp tôi hiểu ra lý do mà sư Minh Trí – sau khi xuất gia, từ bỏ mọi hoạt động chính trị, đã hết lòng tận tụy chăm lo cho những lớp học Việt Ngữ, ở Kampuchea, cho đến… hơi thở cuối!
Trong bài viết sau đây, Henry Kissinger đã cảnh báo về một cuộc thế chiến mới có thể xảy ra và phương cách tốt nhất là tìm cách tạo cho Nga một cơ hội đàm phán trong danh dự. Ý kiến của Kissinger còn nhiều điểm chưa thuyết phục, cần được thảo luận sâu xa hơn...
Trong hơn ba năm - chính xác là 1,016 ngày - Trung Quốc đã đóng cửa với cả thế giới. Hầu hết sinh viên nước ngoài rời khỏi đất nước khi bắt đầu đại dịch. Khách du lịch đã ngừng đến tham quan. Các nhà khoa học Trung Quốc đã ngừng tham dự các hội nghị nước ngoài. Các giám đốc điều hành người nước ngoài bị cấm quay trở lại công việc kinh doanh của họ ở Trung Quốc. Vì vậy, khi Trung Quốc mở cửa biên giới vào ngày 8 tháng 1, từ bỏ những tàn tích cuối cùng của chính sách “không covid”, việc đổi mới tiếp xúc thương mại, trí tuệ và văn hóa sẽ có những hậu quả to lớn, mà phần nhiều là lành tính.
“Đến hẹn lại lên” là chuyện thông lệ, không có gì đặc biệt, nhưng lãnh đạo mà cũng chỉ biết làm đến thế thì dân lo. Chuyện này xẩy ra ở Việt Nam vào mỗi dịp cuối năm khi các cơ quan đảng và chính phủ tổng kết tình hình năm cũ để đặt kế hoạch cho năm mới. Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư đảng, người có quyền lực cao nhất nước, cũng đã làm như thế. Nhưng liệu những điều ông Trọng nói có phản ảnh tình hình thực tế của đất nước, hay ông đã nói tốt để đồng hóa mặt xấu?
Người ta có thể thông cảm và thông hiểu thái độ nhẫn nhục của những người phụ nữ bị đè nén xuống tận đáy xã hội. Họ có cha già, mẹ yếu, con thơ phải chăm lo nên làm to chuyện e cũng chả đi đến đâu mà nhỡ “vỡ nồi cơm” thì khốn khổ cả nhà. Còn cả một tập đoàn lãnh đạo chỉ vì quyền lợi của bản thân và gia đình mà bán rẻ danh dự của cả một dân tộc thì thực là chuyện hoàn toàn không dễ hiểu...
Hai năm đã trôi qua kể từ cuộc bạo loạn ở Washington ngày 6 tháng 1, 2021, Donald Trump ngày càng cô đơn, ngày càng bị cô lập - giống như vở kịch King Lear của Shakespeare trong lâu đài của ông ở Florida. Sự giống nhau giữa họ gây ấn tượng với bất kỳ ai đọc bức chân dung dài về lễ Giáng sinh của cựu tổng thống trên Tạp chí New York. Đúng là Donald Trump chưa mất trí hoàn toàn, giống như Lear. Nhưng những điểm tương tự giữa họ không thể không nhìn ra: hai người đàn ông lớn tuổi, trước đây được bao bọc trong quyền lực, giờ không thể hiểu nỗi họ không còn là mặt trời xoay quanh các sự kiện thế giới.
Bài viết này sẽ đối chiếu câu chuyện Niêm Hoa Vi Tiếu trong Thiền Tông với một số Kinh trong Tạng Pali, để thấy Thiền Tông là cô đọng của nhiều lời dạy cốt tủy của Đức Phật. Tích Niêm Hoa Vi Tiếu kể rằng một hôm trên núi Linh Thứu, Đức Thế Tôn lặng lẽ đưa lên một cành hoa. Đại chúng ngơ ngác không hiểu, duy ngài Ma Ha Ca Diếp mỉm cười. Đức Phật nói: “Ta có Chánh pháp vô thượng, Niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, pháp môn vi diệu, bất lập văn tự, truyền ngoài giáo pháp, nay trao cho Ca Diếp.” Tích này không được ghi trong các Kinh
Việt Nam bước vào năm 2023 với những tín hiệu xấu về chính trị, dẫn đầu bằng cuộc cách chức hai Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam...
Hoa Kỳ và Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1995, hai mươi năm sau khi cuộc chiến chấm dứt, khép lại một trang sử thù nghịch kéo dài nhiều thập niên trên chiến trường và chính trường ngoại giao. Cơ hội để Việt Nam và Hoa Kỳ nối lại quan hệ đã có không lâu sau khi cuộc chiến kết thúc, nhưng Hà Nội để mất cơ hội bắt tay với Washington vào những năm cuối thập niên 1970...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.