Hôm nay,  

Mùa Xuân Dharamsala

07/03/200700:00:00(Xem: 9157)

Mùa Xuân Dharamsala

...Khóa giảng hàng năm của đức Đạt Lai Lạt Ma là ngày hội cho Dharamsala...

Hàng năm, cứ sau Tết Âm lịch, Dharamsala lại như vào hội.

Đấy là khi đức Đạt Lai Lạt Ma mở khoá giảng hàng năm kể từ rầm tháng Giêng.

Nằm tại tiểu bang Himachal Pradesh ở miền cực Bắc Ấn Độ, Dhramsala là một thị trấn miền núi, bậc thềm bước lên Hy Mã Lạp Sơn - tên của tiểu bang nói lên điều ấy.

Là thủ phủ của quận Kangra, Dharamsala có thể được coi là một khu vực nghỉ mát. Tên Ấn Độ của thị trấn này là "Nhà nghỉ", và càng thích hợp với chức năng ấy khi người Anh tiến vào cai trị xứ Ấn Độ. Đây là nơi nghỉ hè của công chức Anh phục vụ tại New Dehli (thủ đô nay tên là Dehli).

Nhưng Dharamsala cũng là một trung tâm tôn giáo lâu đời, nơi dân Ấn lập ra nhiều đền đài theo Ấn Độ giáo, hiện hữu cùng các tu viện Phật giáo của di dân Tây Tạng, từ bên kia biên giới đi xuống, từ thế kỷ thứ tám. Rồi theo đà bành trướng của Ấn Độ, kiến trúc của người Ấn lấn lướt dần các tu viện Phật giáo Tây Tạng.

Thế rồi mọi thứ đều trở thành bình đẳng, gần như bình địa.

Một trận động đất lớn vào năm 1905 đã tàn phá cả hai thị trấn Dharamsala và Kangra trong khu vực. Động đất cũng khiến người Anh tìm nơi nghỉ mát tại Shimla, bên kia vết nứt địa chấn, cho an toàn hơn.

Một trận động đất khác - nhân tạo lần này - lại khiến Dharamsala hồi sinh.

Năm 1959, Trung Quốc tấn công thủ đô Lhasa và hoàn toàn thống trị Tây Tạng, khiến dân Tây Tạng phải theo đức Đạt Lai Lạt Ma lưu vong qua xứ Ấn. Sau khi dại dột đem thí Tây Tạng để "sống chung hoà bình" với Trung Quốc bằng cách khuyên Tây Tạng đừng chống đối mà nên nói chuyện với Bắc Kinh, Ấn Độ hồi tâm nghĩ lại khi nạn dân Tây Tạng từ bên kia biên giới dạt xuống. Vì vậy, năm 1960, Thủ tướng Jawaharlal Nehru mới đề nghị cho đức Đạt Lai Lạt Ma và dân Tây Tạng lập Chính phủ Lưu vong tại Dharamsala.... Từ đấy cộng đồng Tây Tạng lưu vong đã có đất tạm cư, và chọn vùng cao của Dharamsala, nơi còn dấu vết lại qua của tổ tiên họ từ nhiều thế kỷ trước.

Dharamsala có hai khu vực cao thấp cách nhau chừng mươi cây số, hãy tưởng tượng Đà Lạt với Đơn Dương chẳng hạn. Ở cao độ chừng 1.700 thước, McLeod Ganj là địa danh còn lại từ thời Anh của vùng cao, một trung tâm hành chánh và văn hoá. Bên dưới, vùng thấp của Dharamsala là một trung tâm thương mại ở cao độ 1.510 thước.

Một thành phố rất nhỏ, nói cách nhau vài trăm thước là một ý niệm về mặt phẳng. Trong thực tế, đó là vài trăm thước dốc! Đây là một thị trấn cheo leo và leo là quy luật!

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã chọn vùng cao, McLeod Ganj, làm nơi tái tạo lại một phần hồn của Tây Tạng với nhiều tu viện, đền thờ, trường học và một khu công thự dành cho chính quyền lưu vong. Vì vậy, khu vực McLeod Ganj đó còn có tên là Tiểu Lahsa, Little Lhasa, nơi có mấy ngàn người Tây Tạng cư ngụ cùng dân cư địa phương.

Và hàng năm, đến kỳ Monlam là Dharamsala lại như mở hội.

Đây là dịp người dân Tây Tạng tán thán công đức của chư Phật và đức Đạt Lai Lạt Ma giảng pháp cho chư tăng và dân chúng. Khoá giảng của Ngài khởi sự từ mùng ba và sẽ kết thúc vào ngày 13. Chư tăng ở đây là các nhà sư ở ba tu viện Tây Tạng tại Ấn Độ và nhiều tu viện khác trên thế giới. Khách thập phương ở đây quả là những người của thập phương. Đấy là các Phật tử theo đạo, nghe pháp và sinh hoạt tại các tu viện ấy, ở Ấn Độ và trên thế giới, trong số này, có cả tu viện Tây Tạng ở Long Beach của Hoà thượng Geshela. Ông đi từ Mỹ qua Ấn Độ dự khoá giảng này và cũng có riêng một khoá giảng vào những ngày cuối.

Tại Dharamsala, người ta có thể nghiệm thấy một điều. Chính quyền và hàng tăng lữ Tây Tạng là những người có ý chí và viễn kiến. Từ những năm đầu của thập niên 60, công thự của Tây Tạng được thiết kế đơn giản, trang trí bằng cùng loại hoa văn Tây Tạng và hoàn tất thành một khối thống nhất chứ không chắp vá theo lối "tùy hỉ", có bao nhiêu làm bấy nhiêu mỗi năm làm thêm mộ chút. Điều ấy phải nói vì đấy là một khác biệt với các ngôi nhà hay công thự Ấn Độ được thấy mọi nơi.

Cao nhất, kiên cố và rộng lớn nhất là một tu viện, kiêm viện nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng. Trong tâm tư của lãnh đạo Tây Tạng, có ba vấn đề thường xuyên bật sáng là tự do cho quê hương và giáo dục cho dân chúng, tu tập cho tăng già. Tu viện này là một trung tâm giáo dục và tu tập tại Dharamsala. Nó nguy nga hơn dinh cơ của chính phủ.

Xây bên triền núi dốc ngược, tu viện này có bảy tầng cao thấp khác nhau và cao hơn dinh cơ của Chính quyền Tây Tạng và ngôi nhà của đức Đạt Lai Lạt Ma. Chung quanh quần thể kiến trúc ấy là những đỉnh núi tuyết ở xa và rất nhiều loại tùng bách và bá hương hay khuynh diệp.

Một ngôi chùa Việt Nam thường phát triển theo bề ngang và ẩn mình trong cây cỏ thiên nhiên, tu viện Tây Tạng lại nằm rất cao trên đỉnh núi, thường trông xuống thung lũng ở bên dưới. Người Tây Tạng quả là không thể quên vị trí nguy nga của thủ đô và cung điện Lhasa ở quê nhà.

Dinh Chính phủ và tư thất của đức Đạt Lai Lạt Ma quay về hướng Nam, đối diện với Tu viện, bước qua là một quảng trường nhỏ vuông vắn chưa đầy trăm thước, phân nửa sân có che bạt nylon màu vàng có trang trí hoa văn Tây Tạng. Đây là nơi mỗi ngày mọi người đến nghe vị lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng thuyết pháp.

Ngài bước từ trong dinh qua cổng sắt sơn trắng và chào hỏi rừng người ngồi chật dưới đất rồi vào một hàng hiên lớn của tu viện bước lên một đài nhỏ phủ gấm vàng, có tán, có lọng và ngồi theo thế kiết già trên một ghế bành lớn, trước mặt là một cần máy ghi âm. Đức Đạt Lai Lạt Ma lên tiếng là cả đường phố Dharamsala đều nghe thấy tiếng Ngài, vang vọng qua các triền núi nhờ hệ thống loa khuếch âm giăng mắc ở mọi nơi trên tu viện.

Dân số Dharamsala chỉ vỏn vẹn chưa đầy hai chục ngàn người, đa số là dân Ấn Độ, còn lại là mấy ngàn dân Tây Tạng và các nhà sư đang tu tập trong tu viện.

Khi đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giảng, có chừng năm người ngồi nghe. Các nhà sư thì ngồi khắp mọi tầng lầu trong tu viện, khách thập phương thì ngồi đầy sân trước và tràn qua các bậc thang, bờ tường.

Nếu người ta có quên hoàn cảnh Tây Tạng thì việc tham dự khoá giảng này là một nhắc nhở. Mọi người đều đã phải liên lạc trước, từ xa, có thể là qua một tu viện Tây Tạng ở Hoa Kỳ, Na Uy, hay Hán Thành. Liên lạc trước để ghi danh và tới nơi là phải xin thẻ nhận diện, kèm theo tấm hình của mình. Nôm na là không phải ai đến cũng được.

Qua những con dốc hay ngõ ngách nhỏ để tiến vào tu viện, mọi người được yêu cầu không đem theo máy ảnh, điện thoại di động, bật lửa, thuốc lá hay võ khí. Không chỉ được yêu cầu mà còn được khám xét và lục soát rất kỹ. Đây là lý do vì sao độc giả không thấy tấm hình nào!

Nhưng, mọi người cũng được yêu cầu đem theo một ca nước và dù chẳng cần nhắc thì cũng đem theo nệm ngồi! Tùy nơi xuất phát, mỗi nhóm lại được phân cho một ô dưới đất. Như người Đại Hàn có vài chục thì phân nửa là các nhà sư, mặc đạo bào màu xám viền nâu của Phật giáo Đại Hàn.

Trong khoảng năm ngàn người ngồi nghe pháp, có lẽ phân nửa là các nhà sư Tây Tạng mặc áo đỏ. Tri trấn Dharamsala vào Xuân đã đỏ rực vì những tà áo này. Từ mờ sáng, khi các vị sư xếp hàng một - kỷ luật hơn các cư sĩ nhiều lắm - vào tu viện, ta thấy những cái đuôi dài trên bốn ngả dốc dẫn lên tu viện. Hình ảnh rất lạ và đẹp mắt.

Dù là mùa Xuân, khí trời Dharamsala vẫn còn lạnh, từ 45 đến 65 độ F, và còn lạnh buốt khi gió Xuân thổi lên. Trời trong xanh rất đẹp, bên dưới là một cảnh tượng lạ lùng. Dân Tây Tạng ăn mặc đầy màu sắc rực rỡ, có người còn mặc lễ phục - hãy nghĩ đến ngày Tết của ta. Các nhà sư - người Tây Tạng hay da trắng, nam và nữ, khá đông - thì mặc áo đỏ, nhiều người phải quấn khăn hay quấn chăn đỏ vì trời rất lạnh. Còn lại là khách quần phương với cách phục sức đa nguyên của họ!

Gần phân nửa những người ngồi nghe đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết pháp là người da trắng. Còn lại là dân Á châu, da vàng. Người ta đến nghe từ tứ xứ, mỗi người lại một vẻ, rất lạ. Họ quấn khăn, đội mũ, choàng chăn, xách bị, cắp nệm bên nách. Có những người dị kỳ như pháp sư Thổ phồn trong truyện võ hiệp, có người như hippies tại Santa Cruz hay San Francisco, có người quấn tròn như con gấu theo kiểu New York, có người râu tóc bay trước gió như một Tạ Tốn da trắng. Nhiều người ăn mặc rất "casual", nhưng lịch sự với nhãn DKNY, giày Nikey, người đi dép râu Ấn Độ... Muôn hình muôn vẻ.

Nhưng, kỳ lạ vô cùng, khi có tiếng xướng danh của một vị sư Tây Tạng báo hiệu đức Đạt Lai Lạt Ma, mấy ngàn người ồn ào bỗng im phăng phắc. Và Ngài vừa bước ra là người ta quỳ, bò và nằm lạy dưới đất. Ba lần. Cả những nàng kiều nữ Bắc Âu lẫn các giáo sư Hoa Kỳ. Những người vào trễ và dù đứng dưới nên chẳng thấy đức Đạt Lai Lạt Ma họ vẫn kính cẩn quỳ lạy ba lần trên nền đất lạnh, rồi mới phủi áo tìm chỗ ngồi nghe. Hết chỗ thì leo lên bờ tường.

Mà làm sao nghe khi đức Đạt Lai Lạt Ma Tenzin Gyatso đời thứ 14 nói pháp bằng tiếng Tây Tạng"

Khoa học kỹ thuật có giải đáp!

Mỗi người được yêu cầu đem theo một radio nhỏ có cắm ống nghe. Bật lên băng tần FM thì tìm ra lời phiên dịch ra từng thứ tiếng, kể cả Pháp, Ý hay Đại Hàn. Tiếng Anh là 92.5! Người viết đếm không được số ngôn ngữ được phiên dịch! Những người Việt đến từ Hoa Kỳ thì có hệ thống riêng, do một nhà sư Tây Tạng rất trẻ lập riêng cho mình!

Khi bắt đầu bài giảng, vị Phật Sống của Tây Tạng thường hỏi: "Mọi người đã có trà chưa""

Lý do là mấy chục vị sư mỗi người một bình trà hơn một galông đã xen vào đám đông rót trà mời mọi người, theo sau là những khay bánh mì Tây Tạng. Hôm đầu tiên, các Phật tử được mời ăn xôi. Xôi hấp với bơ trộn cùng nho khô. Ngon vô tả! Trà cũng vậy, có pha chút sữa có đường nhưng không quá ngọt. Trời lạnh, quấn mình trong chăn ấm để uống trà thì chưa nghe pháp đã thấy mình thành tiên.

Nghĩa là ban tổ chức và người Tây Tạng phải làm chúng ta khâm phục về cách tổ chức và sự chu đáo của họ. Người nào cũng hiền hoà, ân cần và kiên nhẫn khi mỗi ngày mấy ngàn người như con nước đổ về tu viện hoặc rút xuống ăn trưa để lại trở về nghe đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết pháp.

Trong một buổi chiều, khi nói về lòng từ bi, Ngài đã bật khóc ở trên. Bên dưới, quỳ chung quanh, là những vị cao tăng, những đạo sư trọng tuổi, ngồi tĩnh lặng như những triết gia. Kinh nghiệm ấy là một điều khó quên.

Trong mấy tuần liền, đường phố Dharamsala - toàn ngõ hẹp đường dốc, bề ngang không quá chục thước, bên dưới là sườn núi hay vực - chật ních những người và hàng quán tấp nập khách thập phương. Nếu chịu khó leo cao một chút thì mình có thể lên tới  nhà hàng Chonor House do Richard Gere lập ra cho thiên hạ. Thức ăn ngon, dịch vụ chu đáo và còn có một khu riêng để truy cập Internet.

Nhờ vậy mới kịp có bài này in trên Việt Báo! Thời khắc Dharamsala đi trước California 14 tiếng rưỡi. Cái rưỡi ấy là nét đặc trưng Ấn Độ! Và dù dọa nạt thế giới về IT, hệ thống Internet tại đây, dù là Dehli hay Dharamsala vẫn còn quá chậm. Hình quá lớn gửi về là bị đá ra ngoài.

Những chuyện ấy, nghe thuyết pháp xong thì loài người trần tục sẽ phải tìm cách giả quyết cho độc giả!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuối năm là lúc con người nhìn lại về giá trị cuộc sống. Một bài viết trên trang mạng The Conversation nêu vấn đề về những vực thẳm chính trị, các cuộc chiến tranh, áp bức… và con người vì thế cảm thấy vô vọng và bất lực khi chứng kiến những thế lực đen tối diễn ra khắp nơi trên thế giới. Liệu chúng ta có thể làm được điều gì đem lại thay đổi trước những bi hoại này hay không?
Danh hiệu “Nhân Vật Của Năm” do TIME bắt đầu từ năm 1927 – theo truyền thống được trao cho những người có ảnh hưởng đáng kể trong các sự kiện toàn cầu, từ chính trị đến văn hóa, môi trường, nghệ thuật. Những người được chọn đóng vai trò như một “thước đo phong vũ” về sức lan tỏa trong xã hội đương đại. Ảnh hưởng đó, theo tiêu chuẩn do chính TIME đề ra, có thể là “for better or for worse – làm cho thế giới tốt đẹp hơn hoặc tệ hại hơn.”
Tiễn 2024, thế giới sẽ chào đón một năm mới 2025 mang theo cả bóng tối lẫn ánh sáng. Các cuộc xung đột, sự phân cực chính trị và những rủi ro khôn lường là lời nhắc nhở về sự bất ổn của thời đại. Nhưng đồng thời, khả năng phục hồi kinh tế, sự phát triển công nghệ, tinh thần hợp tác quốc tế, hơi thở và sự sống còn bất khuất của từng người mẹ, từng đứa trẻ vực dậy và vươn lên từ những đống gạch vụn đổ nát ở Ukraine, ở Gaza, ở Syria… cũng là cảm hứng và hy vọng cho tương lai nhân loại. Nhà văn Albert Camus đã viết: “Giữa mùa đông lạnh giá nhất, tôi tìm thấy, trong mình, một mùa hè bất khả chiến bại.”* Thế giới năm 2025, với tất cả những hỗn loạn, vẫn mang đến cơ hội để con người vượt qua và xây dựng một cuộc sống tốt đẹp, tử tế hơn. Đó cũng là lời chúc chân thành cuối năm của toàn ban biên tập Việt Báo gửi đến quý độc giả: một năm 2025 tràn trề cơ hội và hy vọng.
Trong ba năm học gần đây, PEN America đã ghi nhận hàng loạt trường hợp cấm sách xảy ra trên toàn nước Mỹ, đặc biệt trong các trường công lập. Những nỗ lực xóa bỏ một số câu chuyện và bản sắc khỏi thư viện trường học không chỉ gia tăng mà còn trở thành dấu hiệu của một sự chuyển đổi lớn hơn, đặt ra câu hỏi nghiêm trọng về tương lai của giáo dục công lập. Việc kiểm duyệt này phản ánh một xu hướng đáng lo ngại: sự tập trung vào việc kiểm soát nội dung văn hóa và giáo dục, thay vì khuyến khích học sinh tiếp cận kiến thức đa chiều.
Syria đang sống trong một bước ngoặt lịch sử sau khi chế độ độc tài sụp đổ nhanh chóng và Bashar al-Assad trốn sang Nga để tị nạn. Các nhóm nổi dậy chiến thắng đang cố gắng duy trì trật tự công cộng và thảo luận về các kịch bản cho tương lai. Lòng dân hân hoan về một khởi đầu mới đầy hứa hẹn pha trộn với những lo âu vì tương lai đất nước còn đầy bất trắc. Trong 54 năm qua, chế độ Assad đã cai trị đất nước như một tài sản riêng của gia đình và bảo vệ cho chế độ trường tồn là khẩu hiệu chung của giới thân cận.
Các số liệu gần đây cho thấy những thách thức mà nhà lãnh đạo Trung Quốc phải đối mặt để phục hồi kinh tế cho năm 2025, khi quan hệ thương mại với thị trường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc có thể xấu đi cùng lúc mức tiêu thụ trong nước vẫn sụt giảm. Và thật sự thì nền kinh tế Trung Quốc tệ đến mức nào? Việc đặt câu hỏi này ngày càng trở nên hợp lý khi Trung Quốc đang đối mặt với tình trạng sản xuất trì trễ và tiền tệ mất giá kéo dài trong những năm gần đây. Đặc biệt, chính quyền Bắc Kinh dường như không muốn công khai toàn bộ thực trạng.
Chiều ngày Thứ Ba 17/12, tòa án New York kết án Luigi Mangione 11 tội danh, bao gồm tội giết người cấp độ 1, hai tội giết người cấp độ 2 cùng các tội danh khác về vũ khí và làm giả danh tính. Theo bản cáo trạng, một bồi thẩm đoàn ở Manhattan đã truy tố Mangione về tội giết người cấp độ hai là tội khủng bố. Tòa đã kết tội hành động của Luigi Mangione – một hành động nổi loạn khó có thể bào chữa dù đó là tiếng kêu cuối cùng của tuyệt vọng.
Ngay từ thời điểm này, cho dù chưa chính thức bước vào Tòa Bạch Ốc, tổng thống đắc cử Donald Trump đã hứa hẹn một chiến dịch bài trừ di dân lớn nhất lịch sử Mỹ. Những cuộc kiểm soát, bắt bớ, trục xuất di dân dự kiến sẽ diễn ra với qui mô lớn trong vài năm tới. Nhiều sắc dân nhập cư ở Mỹ sẽ phải lo lắng, nhưng cộng đồng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất sẽ là cộng đồng di dân gốc Mỹ Latin. Lời hứa này đang làm hài lòng những người Mỹ xem dân nhập cư là kẻ cướp đi việc làm và quyền lợi của mình. Rất đông trong số này thuộc các cộng đồng di dân, trong đó có cộng đồng gốc Việt. Tuy nhiên, có bao nhiêu người thấy được toàn cảnh ảnh hưởng của những chính sách bài trừ di dân đến nền kinh tế và xã hội Hoa Kỳ?
Trong tài liệu của Thư Viện Quốc Hội ghi rằng, nguồn gốc của quyền ân xá trong Hiến Pháp Hoa Kỳ đến từ lịch sử Anh quốc. Quyền ân xá xuất hiện lần đầu tiên dưới thời trị vì của Vua Ine xứ Wessex vào thế kỷ thứ bảy. Mặc dù tình trạng lạm dụng quyền ân xá ngày càng tăng theo thời gian, dẫn đến những hạn chế sau đó, nhưng quyền ân xá vẫn tồn tại trong suốt thời kỳ thuộc địa của Mỹ.
Tôi cộng tác với tuần báo Trẻ (tờ báo có nhiều ấn bản nhất tại Hoa Kỳ) gần hai chục năm qua. Sự gắn bó lâu dài này không chỉ vì tấm lòng yêu nghề (và thái độ thân thiện cởi mở) của ban biên tập mà còn vì chút tình riêng. Mỗi tuần Trẻ đều dành hẳn một trang báo, để trân trọng giới thiệu đến độc giả hai ba vị thương phế binh (Việt Nam Cộng Hòa) đang sống trong cảnh rất ngặt nghèo ở quê nhà. Nhìn hình ảnh đồng đội của mình đang ngồi trên xe lăn, hay nằm thoi thóp trong một gian nhà tồi tàn nào đó – lắm lúc – tôi không khỏi băn khoăn tự hỏi: “Liệu có còn ai nhớ đến những kẻ đã từng vì đời mà đi không vậy?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.