Hôm nay,  

Tự Do Ngôn Luận?

29/07/200800:00:00(Xem: 11879)
...Nhưng khó chấp nhận được chính là những lời tự quảng bá là ‘trung thực và công bằng’...

Nước Cờ Hoa có thể chế chính trị tự do dân chủ nhất thế giới, đó là điều ít ai chối cãi được dù ưa hay ghét “đế quốc” Mỹ. Tự do có nghĩa là ai muốn nói gì thì nói, nói sai nói đúng, nói phải nói quấy, nói khôn nói dại, nói trắng nói đen, nói thật nói phét,… tất cả đều được hết. 

Tại Mỹ, các đài và báo, như hầu hết ký giả viết tin, đọc tin và bình luận, đều lớn tiếng tự quảng bá là đáng tin cậy nhất, trình bày tin tức trung thực nhất, và bình luận công bằng nhất. Luận điệu này có lẽ là điều láo khoét nhất mà chúng ta có thể nghe được.

Bất cứ một ký giả viết tin, hay đọc tin, hay một bình luận gia nào cũng vậy, cũng chỉ là những con người bằng xương bằng thịt, với ý nghĩ, cảm xúc, yêu thương, giận ghét, sở thích… của mỗi người. Do đó, từng lời nói, bài viết hay cách họ lọc tin để suy diễn cũng chỉ phản ánh suy tư rất chủ quan của họ. Điều này là dễ hiểu và ai cũng có thể chấp nhận được. Nhưng khó chấp nhận được chính là những lời tự quảng bá là “trung thực và công bằng”. Không một ký giả hay nhà bình luận nào, chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp  -kể cả kẻ viết bài này- có thể đứng trong một vị thế trung dung tuyệt đối được. Sự thật đơn giản vậy thôi.

Nhìn vào hệ thống truyền thông Mỹ, người ta thấy rõ là một số đài truyền hình và báo hoàn toàn khống chế truyền thông Mỹ. Về truyền hình thì đó là các đài lớn như ABC, CBS, NBC và CNN, trong khi về báo thì có các nhật báo New York Times, Washington Post, USA Today, Los Angeles Times, San Francisco Chronicles, Chicago Tribune, hay các tuần báo Time và Newsweek. Tất cả những đài truyền hình và báo nặng ký ấy được gọi chung là MSM, chữ viết tắt của Mainstream Media, nghĩa là truyền thông của dòng chính lưu.

MSM từ trước đến giờ vẫn là tiếng nói của giới cấp tiến Mỹ, có lập trường chung rất cấp tiến (liberal) và thiên tả, thường là thân cận với phe cấp tiến trong đảng Dân Chủ.

Sự thiên vị của MSM không là chuyện mới lạ mà thật sự đã có từ mấy thập niên rồi.

Có lẽ nhiều người chưa quên được tờ New York Times là báo đã công bố hồ sơ tối mật Ngũ Giác Đài (The Pentagon Papers) do một nhân viên Bộ Quốc Phòng có tư tưởng phản chiến ăn cắp và cung cấp cho và gây tai hại nặng cho cuộc chiến chống Cộng của chúng ta dưới thời TT Nixon. Chúng ta cũng còn nhớ Washington Post là tờ báo đã khui vụ Watergate để đánh gục Nixon. Đây cũng là tờ báo đã khui vụ cựu đại tá Oliver North cung cấp vũ khí cho các lực lượng tự do Nicaragua chống lại nhà độc tài cộng sản Ortega khiến TT Reagan bối rối không ít. 

Gần đây hơn, tờ New York Times cũng là tờ báo đã công bố chi tiết về những vụ chính quyền Mỹ theo dõi các đường giây chuyển ngân lậu để tài trợ khủng bố trên thế giới, và gây khó khăn cho chính quyền Bush đang truy lùng các nhóm khủng bố liên hệ đến Al Qaeda.

Hiển nhiên, bảo vệ lập trường thiên tả cấp tiến của mình, cũng như nhu cầu đăng tin sốt dẻo để bán báo là chuyện quan trọng hơn xa các vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia đối với MSM.

Cuộc tranh cử tổng thống Mỹ, kể cả các cuộc tranh cử sơ bộ, đã kéo dài gần hai năm nay. Chúng ta đã có dịp nghe đài, xem truyền hình, và đọc báo rất nhiều. Do đó, cũng đã nhìn thấy rõ khía cạnh thiên vị của truyền thông Mỹ.

Ví dụ điển hình nhất là tờ The New York Times (NYT).

Đầu mùa hè năm 2007, khi cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc bắt đầu, tờ NYT bắt buộc phải có ý kiến về các ứng viên hai phe Dân Chủ và Cộng Hòa đang tranh cử. NYT lên tiếng hậu thuẫn bà Hillary Clinton bên Dân Chủ - dĩ nhiên vì lúc đó chưa ai biết Obama là ai - và ông John McCain bên Cộng Hòa. NYT ủng hộ McCain một phần vì ông này trước đây tranh cử chống thống đốc Bush của Texas trong cuộc tranh cử năm 2000 và sau đó đã nhiều lần lên tiếng phát biểu khác ý với Chính quyền Bush về nhiều vấn đề quan trọng, như thuế, chiến thuật tại Iraq, cách cư xử với tù nhân khủng bố, v.v...

Nhưng phần khác vì McCain lúc đó đang là một “ngôi sao” hết sức lu mờ, không ai nghĩ ông có chút hy vọng nào hết chống lại cựu thị trưởng New York Rudolph Giuliani hay cựu thống đốc Massachussetts Mitt Romney.

Việc hậu thuẫn một người nổi tiếng chống Bush mà lại có vẻ vô vọng đắc cử có thể được hiểu như kiểu khều giò lái đảng Cộng Hòa và TT Bush không hơn không kém.

Đến tháng Hai năm 2008, khi ông McCain đã nổi bật như người sẽ đắc thắng cuộc tranh cử sơ bộ bên Cộng Hòa thì NYT bèn thân tặng ông này một loạt bài tố cáo không chứng cớ răng ông này cách đây cả chục năm đã gian díu với một bà là chuyên viên vận động hành lang - lobbyist. Nhiều người thắc mắc không hiểu tại sao NYT lại lên tiếng hậu thuẫn ông McCain nếu đã biết về vụ lem nhem này. Có thể NYT đã cố tình lên tiếng hậu thuẫn và ca ngợi ông McCain là ứng viên Cộng Hòa sáng giá nhất, để rồi sau đó có dịp chứng minh được với thiên hạ người khá nhất của Cộng Hòa cũng chỉ là thứ lem nhem vớ vẩn thôi!

Không may cho NYT là loạt bài này bị phản ứng ngược. Tờ báo không đưa ra được bằng chứng nào mà chỉ dựa vào lời kể của một người giấu tên, nên bài báo bị coi là vô giá trị và có tính cách bôi bác. Ông McCain thoát hiểm.

Trung tuần tháng Bẩy vừa qua, ông McCain lại bị NYT tặng cho một món quà nữa.

Hồi tháng Sáu, ông Obama lên tiếng tuyên bố “có thể xét lại” lịch trình rút quân khỏi Iraq của ông. Ông liền bị phe Cộng Hòa tố ngay là lập trường chao đảo, chuyển hướng để lấy phiếu mấy ông bảo thủ và độc lập không chấp nhận rút quân cấp tốc bất kể hậu quả của Obama. Để đỡ đòn, Obama viết một bài tràng giang đại hải phân trần và giải thích về lập trường của ông trong việc rút quân khỏi Iraq, đồng thời đả kích mạnh mẽ lập trường của McCain và Bush. Bài viết của Obama được NYT đăng nguyên văn trên mục bình luận của báo này.

Một tuần lễ sau, ông McCain viết một bài để trả lời những chỉ trích của Obama và chất vấn lại lập trường của Obama.

NYT từ chối không cho đăng bài trả lời của ông McCain. Chủ bút phụ trách mục bình luận góp ý (Op-ed) của NYT giải thích là bài của Obama đưa ra lập luận mới lạ (new), trong khi bài của McCain có nhiều thiếu sót, nhiều câu hỏi không được trả lời, đồng thời lại chỉ trích Obama hơi nhiều. Ông chủ bút xác nhận NYT sẽ vui vẻ cứu xét việc đăng bài của McCain nếu ông này chịu viết lại, rập khuôn theo bài của ông Obama (nguyên văn: “mirrors Senator Obama’s piece”). Cũng cần biết ông chủ bút này trước đây là phụ tá đặc biệt của TT Dân Chủ Bill Clinton!

Sự kiện NYT đăng bài của Obama rồi không cho đăng bài trả lời của McCain, tự nó đã là hơi quá thiên vị. Bây giờ NYT lại còn yêu sách đòi McCain phải viết “rập khuôn” theo Obama thì quả là chuyện lạ. Không khác gì trường hợp các bài viết của các ký giả được các chủ biên “hướng dẫn” cách viết trong chế độ báo chí của các nước cộng sản. Nhưng đây lại là chyện đang xẩy ra trên nước Mỹ, nơi được gọi là thành trì của tự do ngôn luận, với một tờ báo được coi là lớn nhất Mỹ.

Nếu ai không tin NYT là báo cấp tiến thiên vị Obama thì chỉ cần nhìn vào sự kiện trên để hiểu rõ vấn đề hơn.

Nhưng không phải chỉ có NYT là cơ quan truyền thông duy nhất đang cố gắng rao giảng "đạo Obama".

Trước đây, bà Hillary tuy cũng là phe Dân Chủ, nhưng vì ít cấp tiến hơn Obama và thuộc loại đồ cổ, không hấp dẫn gì lắm, nên các báo cấp tiến đã ra công kéo bà xuống để tâng bốc Đấng Tiên Tri mới Obama. Bà Hillary gân cổ phản đối cũng vô hiệu.

Ngay sau khi bà Hillary đại thắng tại Texas và Ohio, có hy vọng lật ngược thế cờ, thắng Obama trong những cuộc bầu chót của cuộc tranh cử sơ bộ bên Dân Chủ, thì cả hai tuần báo Time và Newsweek đều cho ngay hình Obama lên trang bìa với bài viết kèm theo tuyên bố Obama đã đắc cử đại diện cho đảng Dân Chủ, hoá giải ngay dư âm của hai cuộc chiến thắng của bà Hillary. Dĩ nhiên trong các cuộc bầu sơ bộ sau đó, các cử tri của Obama phấn khởi, đi bầu ào ào, trong khi cử tri của Hillary nản chí nằm nhà không đi bầu nữa, hay đi bầu cho Obama vậy. Khiến cho Obama thắng thật, đúng như hai tuần báo đã loan tin từ trước.

Sau khi Obama hạ được bà Hillary thì ông bắt đầu đổi chiến lược. Bắt đầu trở giọng ôn hòa, bớt quá khích cấp tiến hơn để thu hút phiếu của các cử tri độc lập và Cộng Hòa ôn hòa. Ông thay đổi lập trường trên một loạt vấn đề, từ việc nuốt lời hứa nhận tiền công quỹ để tranh cử, đến việc chấp nhận sở hữu súng mà mình vẫn chống đối từ lâu, việc bỏ phiếu miễn tố các công ty điện thoại trước đây đã giúp Bush nghe lén những cuộc đối thoại của các nghi can khủng bố, xét lại việc rút quân tại Iraq, … Tất cả những thay đổi lập trường lộ liễu của Obama nếu không được giới truyền thông cấp tiến nức nở ca ngợi như hành động khôn ngoan, thì cũng được chấp nhận như có tính thực tế.

Dù còn hơn ba tháng nữa mới tới ngày bàu cử và các cuộc thăm dò dư luận đều cho thấy một tình trạng ngang ngửa giữa hai ứng viên, nhưng tuần báo Time trong số ra trung tuần tháng Bẩy đã khẳng định McCain hoàn toàn vô vọng rồi, chỉ vì theo Time, Obama chính là sự thay đổi mà tất cả mọi người đang mong đợi. Nói cách khác, Time chỉ lập lại một khẩu hiệu quen thuộc của Obama thôi, coi như lập luận này đã trở thành sự thật vậy.

Time ra số đặc biệt với 24 trang (một kỷ lục chưa từng xẩy ra) ca tụng Obama bằng danh từ và giai thoại vặt có tính cách thần thánh hoá Obama đến độ ngay các báo New York Times và Washington Post cũng cảm thấy hơi quá trớn.

Sự thiên vị cũng được thể hiện qua cách phổ biến tin tức.

Đài truyền hình ABC cách đây không lâu, gửi nữ ký giả Martha Raddatz qua Iraq thăm dò dư luận quân nhân Mỹ tại đây. Bà hỏi ý 60 quân nhân về ba ứng viên Obama, Hillary và McCain. Năm mươi bốn người nói sẽ bỏ phiếu cho McCain, 4 người ủng hộ Obama, và 2 ủng hộ bà Hillary. Tối hôm sau, khán giả coi TV ở Mỹ được thấy bà ký giả này phỏng vấn 3 quân nhân ủng hộ Obama và 2 quân nhân ủng hộ bà Hillary. Không có một lời nói nào về 54 quân nhân ủng hộ McCain.

Sự tôn sùng Obama lan qua tới hai cô con gái. Một ký giả của Associated Press viết bài nức nở ca ngợi hai cô bé Malia, 10 tuổi, và Sasha 7 tuổi này là rất ngoan, không bao giờ cãi nhau, sáng ngủ dậy biết tự làm giường, rồi tự đi lấy quần áo mặc đi học, mỗi ngày được bố Obama cho một đô vì giữ phòng ngủ sạch sẽ. Làm sao ký giả này biết rõ những chi tiết ấy vậy, nếu không phải là được chính hai ông bà Obama cung cấp, rồi cứ thế đăng lên báo thôi, coi như sự thực vì được đích thân Đấng Tiên Tri cung cấp!

Gần đây hơn, sự thiên vị của giới truyền thông còn được phơi bày hết sức lộ liễu trong cuộc công du nước ngoài của ông Obama.

Ngay sau khi đắc cử đại diện đảng Cộng Hòa, ông McCain đi ra nước ngoài ba lần, một lần đi Iraq, Afghanistan và Âu Châu, y như Obama bây giờ. Hai lần kia, ông đi Canada và Nam Mỹ. Nhưng cả ba cuộc chu du này đều chẳng ai hay biết. Giới truyền thông loan tin vắn tắt, coi như không có chuyện gì đặc biệt xẩy ra.

Nhưng gần đây khi đến phiên Obama chu du Iraq, Afghanistan và Âu Châu thì báo chí và truyền hình chạy tin hàng đầu trên trang nhất từ cả tuần trước đến cả tuần sau. Thậm chí, cả ba người đọc tin chủ chốt (anchorman/woman) của cả ba đài truyền hình ABC, CBS và NBC, cùng với hơn hai trăm ký giả đã đi theo phái đoàn của Obama. Ngay cả TT Bush khi đi công du viếng thăm chính thức một nước nào trên thế giới cũng chưa bao giờ có được sự “hộ tống” của cả ba đài truyền hình toàn quốc và nhiều ký giả như vậy!

Bị chỉ trích, các ký giả này giải thích là chỗ nào có tin sốt dẻo là họ cần phải đến. Thì cũng đúng vậy. Chỉ có điều là như thế có nghĩa là với họ, chỉ có chỗ nào có Obama thì mới là chỗ có tin sốt dẻo. Chỗ nào không có Obama là chỗ đó không có tin gì đáng nói"

Theo thống kê của một tổ chức giám sát truyền thông, trong sáu tuần lễ từ đầu tháng Sáu đến giữa tháng Bẩy vừa qua, tuần nào thì tin tức về Obama cũng được loan báo nhiều hơn tin tức về McCain. Tổng cộng số phút được dành cho Obama trên ba đài truyền hình chính là 2 tiếng (114 phút), trong khi McCain chỉ được chưa tới một tiếng (48 phút).

Chắc chắn với cuộc chu du của Obama, những con số này sẽ thay đổi nhiều. Thứ ba 22 tháng 7, Katie Couric của CBS có chương trình đặc biệt phỏng vấn Obama, hôm sau, 23 có Charlie Gibson của ABC, rồi hôm sau nữa, 24, tới phiên Brian Williams của NBC. Ba ngày, ba chương trình phỏng vấn đặc biệt, chưa kể các tin tức về cuộc chu du do hơn hai trăm ký giả khác loan tải. Trong khi ấy, McCain tới phi trường Manchester để viếng thăm tiểu bang New Hampshire được đúng… một ký giả ra đón. Các báo giải thích là họ… hết người vì tất cả đã được gửi đi theo Obama rồi.

Nếu nhìn vào khía cạnh tiền yểm trợ thì sự thiên vị cũng rất rõ. Theo báo cáo của hai ứng viên. Các cơ quan truyền thông và ký giả đã ủng hộ Obama hơn 315.500 đô, và yểm trợ McCain  3.150 đô, đúng 1% số tiền Obama nhận được!

Chuyện truyền thông phe đảng thiên vị Obama không có gì lạ. Điều lạ là dù cho tỷ lệ hậu thuẫn TT Bush xuống thật thấp và truyền thông tung hô Obama lên mây xanh, hy vọng thắng cử của Obama vẫn hết sức mong manh. Trong cuộc thăm dò dư luận của Newsweek tháng Sáu vừa qua, Obama thắng McCain 15 điểm, đến giữa tháng Bẩy, tỷ lệ này tụt xuống mức 3 điểm, rồi qua cuối tháng Bẩy, lại tuột nữa, xuống còn có 1 điểm. 

Dân Mỹ thật ra cũng không đến nỗi ngu ngơ lắm. Họ ý thức khá rõ sự thiếu trung thực của truyền thông. Theo như cuộc thăm dò dư luận mới đây của đài truyền hình Fox, hai phần ba dân Mỹ (67%) cho rằng truyền thông muốn Obama thắng, và chỉ có một phần mười (11%) dân Mỹ nghĩ rằng truyền thông trung lập. Một thăm dò dư luận khác cho thấy chỉ có khoảng 15% dân Mỹ tin tưởng giới truyền thông, chưa bằng một nửa mức hậu thuẫn 33% của TT Bush mà giới truyền thông không ngớt chê bai là bết bát nhất lịch sử Mỹ. Con số 15% này chỉ hơn có con số 11% mà dân Mỹ dành cho các dân biểu nghị sĩ Dân Chủ trong quốc hội.

Hoa Kỳ là xứ của tự do ngôn luận. Ai muốn nói gì thì nói. Báo chí muốn bênh phe nào hay chống phe nào là quyền của họ, được Hiến Pháp bảo vệ. Chỉ cần giới truyền thông có đủ tự trọng để đừng vỗ ngực cho rằng mình trung thực và trung lập thôi. Nhưng hình như đòi hỏi này hơi khó cho giới truyền thông cấp tiến Mỹ (26-7-08).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.