Hôm nay,  

Vui Thú Yên Hà

23/09/200900:00:00(Xem: 7280)
VUI THÚ YÊN HÀ
Huệ Trân
Các cụ ta thời xưa có những thú tiêu khiển tao nhã mà nay con cháu có tình cờ tìm đọc nơi sách vở cũ cũng … chịu thua vì không thể bắt chước được. Chẳng hạn như, để đón hoa quỳnh nở về đêm, các cụ phải chuẩn bị nhiều ngày. Thời xưa, đó là loại hoa quỳnh hiếm quý, khi kết nụ và tăng trưởng đều đặn, báo hiệu sẽ nở hoa vào một đêm trăng tỏ thì chủ nhân chẳng thể không chia sẻ với bằng hữu.
Ngồi ngắm hoa suông ư" Coi sao được! Tiếp tao nhân mặc khách thì trà quý không thể thiếu. Thế nên con cháu trong nhà sẽ được lệnh mang những bộ tách nung bằng men, bằng sứ ra chùi rửa. Bộ nào cũng có một chiều dài xuất sứ đi theo để tăng thêm phần giá trị.
Nâng tách cổ, uống trà ngon, ngắm hoa quý mà dùng bánh kẹo mua ngoài chợ thì cũng không xứng đáng! Các cụ bèn sai gia nhân nấu kẹo mạch nha để nhâm nhi với trà thơm. Loại kẹo này chủ yếu chỉ là đường, quậy cho đều, khi đường tan ở độ vừa quánh thì thêm vào loại hương thơm nào mà gia chủ ưa thích, như mùi hoa sen, hoa bưởi, hoa nhài v…v.. Thực ra, đây là loại kẹo bình dân, cuốn thành cục tròn tròn trên một cái que bằng tre, thường bán cho trẻ con trong xóm. Nhưng khi được chọn để có mặt trong đêm ngắm hoa thưởng nguyệt thì nó đã được nâng cấp tới mức cầu kỳ.
Nhiều ngày trước, gia nhân đã phải để ý tìm nhặt những hạt sỏi nhỏ, nhẵn, trong, và tròn trịa, mang về ngâm nước muối cho thiệt sạch. Sau đó, lại rửa kỹ bằng nước mưa, chứ không phải nước ao hồ. Khi sạch rồi, sẽ mang phơi nắng, phủ lớp vải thưa mỏng cho khỏi bám bụi. Rồi khi nồi kẹo vừa độ quánh, gia nhân sẽ dùng đôi đũa tre dài, gắp từng hạt sỏi, nhúng vào nồi kẹo, xoay tròn nhè nhẹ cho kẹo dính quanh sỏi. Phải khéo tay để viên kẹo vừa đẹp, vừa không lớn, chỉ đủ ngậm trong miệng, để chất ngọt, chất thơm sẽ tan từ từ đến khi chỉ còn trơ hạt sỏi. Lúc đó các cụ mới nhả ra và uống trà!
Thời nay, con cháu nào mà có thể hầu trà như vậy" Cũng may, không còn bao nhiêu cụ chuộng cái thú tiêu khiển như vậy nữa!
Mới hay, không gì thịnh mà không suy, nên với thời gian, lòng hoài cổ cũng chỉ là “Xếp tàn y lại, để dành hơi” mà thôi!
Tuy nhiên, cũng có những thú vui xưa còn có thể tồn tại. Chẳng hạn thú sưu tầm đồ cổ. Trong lãnh vực này, đồ sứ Giang Tây được nhắc nhở nhiều nhất. Các loại men, loại sứ xuất phát từ đây thường được chọn lọc kỹ càng để giữ được danh tiếng, nhưng vẫn không thể tránh bị làm giả. Ngoài cảnh trí mai, lan, cúc, trúc thường được trang điểm lên sản phẩm, tôi tình cờ được thấy một cái đĩa sứ ở nhà một người bạn. Cái đĩa men xanh, nằm trang trọng trong tủ kính được bạn tôi giới thiệu là đĩa cổ Giang Tây, đã mua được giữa đống hàng hóa bát nháo trong khu chợ trời. Người bán hàng vì không biết giá trị nên bán giá rất rẻ.
Tôi đứng ngắm chiếc đĩa quý không vì những tình tiết mà bạn tôi giới thiệu, cũng chẳng quan tâm hàng thật hay hàng giả. Tôi bị chiếc đĩa thu hút vì hai câu thơ khắc trên đó:
“Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, Hạc là người quen.”
Lát sau, tôi nhìn bạn, buột miệng nói một câu mà tôi nghĩ, có thể làm bạn thất vọng:
- Hay quá! Nếu gặp được chiếc đĩa nay, tôi cũng sẽ mua ngay. Hai câu thơ thật đẹp!
Bạn tôi mua vì men, vì sứ, vì nơi xuất phát. Còn tôi, nếu có mua, chỉ vì hai câu thơ trên đó! Nhưng, thơ văn có làm tăng giá trị khi khắc ghi trên sản phẩm không" Chắc cũng có chứ! Chẳng hạn như chiếc quạt giấy rất tầm thường của tôi mà tôi quý lắm, vì có giòng chữ mực đen ai phóng bút lên đó “Bố là tất cả, Bố ơi! Mẹ chỉ có một trên đời.”

Thật ra, hai câu thơ trên chiếc đĩa men xanh mà bạn tôi tin là đồ cổ xứ Giang Tây cũng chẳng độc đáo cho lắm về ý từ, nhưng tâm tôi dính vào vì hai hình ảnh Mai và Hạc.
Không hiểu sao, tôi lại nhìn hai đối tượng này là hình ảnh của Cha và Mẹ. Tôi từng quan sát gốc mai sau vườn. Chậm rãi, lặng thầm, nhưng những cọng rễ li ti rất chăm chút, cẩn thận đón nắng, chờ mưa nuôi từng cành non, từng lá mới để mùa xuân, muôn hoa nở rộ làm đẹp cho đời; khác chi lòng mẹ âm thầm nuôi con nhiều tháng năm dài, mong khi khôn lớn con sẽ là người tài đức.
Còn cha, núi Thái Sơn ở đâu, cao bao nhiêu, rộng nhường nào, tôi không biết! chỉ là trí tưởng tượng về một cái gì cao lắm, rộng lắm, nhưng sự cao rộng đó lại bất động! Trong khi, với riêng tôi, cha luôn là những hình ảnh năng động tuyệt vời. Thuở tôi thơ dại, cha là ngưồi cầm tay, dạy tôi tô từng nét A, B trên cuốn vở đầu đời, là người chạy theo để kịp đỡ khi tôi té ngã trên những vòng xe đạp loạng quạng, vụng về. Cha đưa tôi về quê nội, thăm quê ngoại để biết quý hạt cơm có từ ruộng, manh áo có từ tằm. Khi tôi lớn, mà chưa khôn, cha chỉ cho tôi đâu là những bàn tay sắt bọc nhung, đâu là những vòng cung tên tẩm độc, chứ chẳng phải cây cong! ….
Cha không phải là núi Thái Sơn ở đâu đó, xa xôi, thinh lặng, mà cha là cánh hạc gần gũi tôi từng thấy. Cánh hạc mạnh mẽ, mới bên bờ đá mà thoáng chốc đã vỗ cánh vút cao. Không gian kia mênh mông, bao la thật, nhưng chỉ bằng sức mình, hạc vẫn nhẹ nhàng tung cánh bay bổng trong không gian đó. Hạc nói với trăng rất xa, với sao rất tỏ, rằng ý chí trong cái đầu bé nhỏ này, trong đôi cánh đơn sơ này là tiềm năng vô hạn có thể chạm tới trăng, với tới sao.
Cha cho tôi niềm tin đó trên những bước đường cha đi. Có những trang sách đáng hãnh diện về đời cha mà tôi chỉ được lật tới khi cha không còn nữa! Với những trang sách đó, tôi từng nức nở khóc, khi quấn lên đầu chiếc khăn tang trong ngày được tin cha ra đi:
“Đại Ca ơi, hết thật rồi!
Tin xa cuồng xé tơi bời ruột gan
Đại Ca bỏ cuộc sao đang!"
Hận đau nước mất, nhà tan còn đầy!...”
Tôi tưởng chỉ có tôi nhìn Mai, nhìn Hạc thấy hình ảnh mẹ cha. Ấy thế mà có lần, tôi tình cờ đọc được bài thơ của một vị Thượng Tọa viết về tình cha với những hình ảnh rất mới mẻ. Bài thơ khá dài nhưng mới đọc lần đầu, tôi đã nhớ ngay bốn câu kết:
“Cha ơi cha! Bóng cha như cánh hạc
Bay trên cao, mãi mãi ở trên cao
Là cội tùng, là vách đá trăng sao,
Là bầu trời rộng rạt rào vô tận.”
Tác giả bài thơ “Vu Lan nhớ cha” là Thượng Tọa Thích Nguyên Siêu, vị thầy tôi vẫn thỉnh thoảng viếng thăm mà lại không ngờ thầy làm thơ thâm trầm thế! Suốt bài thơ dài, tôi cảm nhận hạnh phúc vô biên của thầy vì đã được hưởng trọn vẹn những gì cao quý nhất của tình phụ tử.
Công cha nghĩa mẹ tựa như trời biển nhưng trong thế giới văn chương nhân gian, tìm những lời ngợi ca mẹ rất dễ, mà những gì về cha được ghi lại thì rất khiêm nhường! Điều đó không phải cán cân thiên lệch đâu, mà vì mẹ luôn có nhiều thì giờ gần gũi với con hơn cha, nên trong tâm thức, khi con cần chia xẻ thì mẹ luôn hiện hữu trước.
Chỉ là thế thôi, nên những đứa con, từ khi ấu thơ được cha mẹ nuôi nấng, che chở, trải suốt chiều dài, tới khi chính các con ở tuổi già xế bóng thì cha mẹ khi xưa vẫn như gần gũi quanh đây:
“Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, Hạc là người quen.”
Huệ Trân
(Đại Ẩn Sơn, Lộc Uyển Tự, đầu thu 2009)
         

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.