Hôm nay,  

Vui Thú Yên Hà

23/09/200900:00:00(Xem: 7443)
VUI THÚ YÊN HÀ
Huệ Trân
Các cụ ta thời xưa có những thú tiêu khiển tao nhã mà nay con cháu có tình cờ tìm đọc nơi sách vở cũ cũng … chịu thua vì không thể bắt chước được. Chẳng hạn như, để đón hoa quỳnh nở về đêm, các cụ phải chuẩn bị nhiều ngày. Thời xưa, đó là loại hoa quỳnh hiếm quý, khi kết nụ và tăng trưởng đều đặn, báo hiệu sẽ nở hoa vào một đêm trăng tỏ thì chủ nhân chẳng thể không chia sẻ với bằng hữu.
Ngồi ngắm hoa suông ư" Coi sao được! Tiếp tao nhân mặc khách thì trà quý không thể thiếu. Thế nên con cháu trong nhà sẽ được lệnh mang những bộ tách nung bằng men, bằng sứ ra chùi rửa. Bộ nào cũng có một chiều dài xuất sứ đi theo để tăng thêm phần giá trị.
Nâng tách cổ, uống trà ngon, ngắm hoa quý mà dùng bánh kẹo mua ngoài chợ thì cũng không xứng đáng! Các cụ bèn sai gia nhân nấu kẹo mạch nha để nhâm nhi với trà thơm. Loại kẹo này chủ yếu chỉ là đường, quậy cho đều, khi đường tan ở độ vừa quánh thì thêm vào loại hương thơm nào mà gia chủ ưa thích, như mùi hoa sen, hoa bưởi, hoa nhài v…v.. Thực ra, đây là loại kẹo bình dân, cuốn thành cục tròn tròn trên một cái que bằng tre, thường bán cho trẻ con trong xóm. Nhưng khi được chọn để có mặt trong đêm ngắm hoa thưởng nguyệt thì nó đã được nâng cấp tới mức cầu kỳ.
Nhiều ngày trước, gia nhân đã phải để ý tìm nhặt những hạt sỏi nhỏ, nhẵn, trong, và tròn trịa, mang về ngâm nước muối cho thiệt sạch. Sau đó, lại rửa kỹ bằng nước mưa, chứ không phải nước ao hồ. Khi sạch rồi, sẽ mang phơi nắng, phủ lớp vải thưa mỏng cho khỏi bám bụi. Rồi khi nồi kẹo vừa độ quánh, gia nhân sẽ dùng đôi đũa tre dài, gắp từng hạt sỏi, nhúng vào nồi kẹo, xoay tròn nhè nhẹ cho kẹo dính quanh sỏi. Phải khéo tay để viên kẹo vừa đẹp, vừa không lớn, chỉ đủ ngậm trong miệng, để chất ngọt, chất thơm sẽ tan từ từ đến khi chỉ còn trơ hạt sỏi. Lúc đó các cụ mới nhả ra và uống trà!
Thời nay, con cháu nào mà có thể hầu trà như vậy" Cũng may, không còn bao nhiêu cụ chuộng cái thú tiêu khiển như vậy nữa!
Mới hay, không gì thịnh mà không suy, nên với thời gian, lòng hoài cổ cũng chỉ là “Xếp tàn y lại, để dành hơi” mà thôi!
Tuy nhiên, cũng có những thú vui xưa còn có thể tồn tại. Chẳng hạn thú sưu tầm đồ cổ. Trong lãnh vực này, đồ sứ Giang Tây được nhắc nhở nhiều nhất. Các loại men, loại sứ xuất phát từ đây thường được chọn lọc kỹ càng để giữ được danh tiếng, nhưng vẫn không thể tránh bị làm giả. Ngoài cảnh trí mai, lan, cúc, trúc thường được trang điểm lên sản phẩm, tôi tình cờ được thấy một cái đĩa sứ ở nhà một người bạn. Cái đĩa men xanh, nằm trang trọng trong tủ kính được bạn tôi giới thiệu là đĩa cổ Giang Tây, đã mua được giữa đống hàng hóa bát nháo trong khu chợ trời. Người bán hàng vì không biết giá trị nên bán giá rất rẻ.
Tôi đứng ngắm chiếc đĩa quý không vì những tình tiết mà bạn tôi giới thiệu, cũng chẳng quan tâm hàng thật hay hàng giả. Tôi bị chiếc đĩa thu hút vì hai câu thơ khắc trên đó:
“Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, Hạc là người quen.”
Lát sau, tôi nhìn bạn, buột miệng nói một câu mà tôi nghĩ, có thể làm bạn thất vọng:
- Hay quá! Nếu gặp được chiếc đĩa nay, tôi cũng sẽ mua ngay. Hai câu thơ thật đẹp!
Bạn tôi mua vì men, vì sứ, vì nơi xuất phát. Còn tôi, nếu có mua, chỉ vì hai câu thơ trên đó! Nhưng, thơ văn có làm tăng giá trị khi khắc ghi trên sản phẩm không" Chắc cũng có chứ! Chẳng hạn như chiếc quạt giấy rất tầm thường của tôi mà tôi quý lắm, vì có giòng chữ mực đen ai phóng bút lên đó “Bố là tất cả, Bố ơi! Mẹ chỉ có một trên đời.”

Thật ra, hai câu thơ trên chiếc đĩa men xanh mà bạn tôi tin là đồ cổ xứ Giang Tây cũng chẳng độc đáo cho lắm về ý từ, nhưng tâm tôi dính vào vì hai hình ảnh Mai và Hạc.
Không hiểu sao, tôi lại nhìn hai đối tượng này là hình ảnh của Cha và Mẹ. Tôi từng quan sát gốc mai sau vườn. Chậm rãi, lặng thầm, nhưng những cọng rễ li ti rất chăm chút, cẩn thận đón nắng, chờ mưa nuôi từng cành non, từng lá mới để mùa xuân, muôn hoa nở rộ làm đẹp cho đời; khác chi lòng mẹ âm thầm nuôi con nhiều tháng năm dài, mong khi khôn lớn con sẽ là người tài đức.
Còn cha, núi Thái Sơn ở đâu, cao bao nhiêu, rộng nhường nào, tôi không biết! chỉ là trí tưởng tượng về một cái gì cao lắm, rộng lắm, nhưng sự cao rộng đó lại bất động! Trong khi, với riêng tôi, cha luôn là những hình ảnh năng động tuyệt vời. Thuở tôi thơ dại, cha là ngưồi cầm tay, dạy tôi tô từng nét A, B trên cuốn vở đầu đời, là người chạy theo để kịp đỡ khi tôi té ngã trên những vòng xe đạp loạng quạng, vụng về. Cha đưa tôi về quê nội, thăm quê ngoại để biết quý hạt cơm có từ ruộng, manh áo có từ tằm. Khi tôi lớn, mà chưa khôn, cha chỉ cho tôi đâu là những bàn tay sắt bọc nhung, đâu là những vòng cung tên tẩm độc, chứ chẳng phải cây cong! ….
Cha không phải là núi Thái Sơn ở đâu đó, xa xôi, thinh lặng, mà cha là cánh hạc gần gũi tôi từng thấy. Cánh hạc mạnh mẽ, mới bên bờ đá mà thoáng chốc đã vỗ cánh vút cao. Không gian kia mênh mông, bao la thật, nhưng chỉ bằng sức mình, hạc vẫn nhẹ nhàng tung cánh bay bổng trong không gian đó. Hạc nói với trăng rất xa, với sao rất tỏ, rằng ý chí trong cái đầu bé nhỏ này, trong đôi cánh đơn sơ này là tiềm năng vô hạn có thể chạm tới trăng, với tới sao.
Cha cho tôi niềm tin đó trên những bước đường cha đi. Có những trang sách đáng hãnh diện về đời cha mà tôi chỉ được lật tới khi cha không còn nữa! Với những trang sách đó, tôi từng nức nở khóc, khi quấn lên đầu chiếc khăn tang trong ngày được tin cha ra đi:
“Đại Ca ơi, hết thật rồi!
Tin xa cuồng xé tơi bời ruột gan
Đại Ca bỏ cuộc sao đang!"
Hận đau nước mất, nhà tan còn đầy!...”
Tôi tưởng chỉ có tôi nhìn Mai, nhìn Hạc thấy hình ảnh mẹ cha. Ấy thế mà có lần, tôi tình cờ đọc được bài thơ của một vị Thượng Tọa viết về tình cha với những hình ảnh rất mới mẻ. Bài thơ khá dài nhưng mới đọc lần đầu, tôi đã nhớ ngay bốn câu kết:
“Cha ơi cha! Bóng cha như cánh hạc
Bay trên cao, mãi mãi ở trên cao
Là cội tùng, là vách đá trăng sao,
Là bầu trời rộng rạt rào vô tận.”
Tác giả bài thơ “Vu Lan nhớ cha” là Thượng Tọa Thích Nguyên Siêu, vị thầy tôi vẫn thỉnh thoảng viếng thăm mà lại không ngờ thầy làm thơ thâm trầm thế! Suốt bài thơ dài, tôi cảm nhận hạnh phúc vô biên của thầy vì đã được hưởng trọn vẹn những gì cao quý nhất của tình phụ tử.
Công cha nghĩa mẹ tựa như trời biển nhưng trong thế giới văn chương nhân gian, tìm những lời ngợi ca mẹ rất dễ, mà những gì về cha được ghi lại thì rất khiêm nhường! Điều đó không phải cán cân thiên lệch đâu, mà vì mẹ luôn có nhiều thì giờ gần gũi với con hơn cha, nên trong tâm thức, khi con cần chia xẻ thì mẹ luôn hiện hữu trước.
Chỉ là thế thôi, nên những đứa con, từ khi ấu thơ được cha mẹ nuôi nấng, che chở, trải suốt chiều dài, tới khi chính các con ở tuổi già xế bóng thì cha mẹ khi xưa vẫn như gần gũi quanh đây:
“Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, Hạc là người quen.”
Huệ Trân
(Đại Ẩn Sơn, Lộc Uyển Tự, đầu thu 2009)
         

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.