Hôm nay,  

Người Mỹ Thực Tế

08/01/200800:00:00(Xem: 11281)

Hiến pháp Mỹ được thông qua năm 1787, trong đó không hề có một chữ "Thượng Đế" (God). Thời kỳ đó cách nay đã hơn hai thế kỷ, người dân Mỹ khi đó tuyệt đại bộ phận là dân Anglo-Saxon di cư từ vương quốc Anh sang tìm tự do tôn giáo hoặc mưu cầu một sự đổi đời, làm giàu. Với dân số gần 4 triệu khi Liên Bang Hoa Kỳ được thành lập, nguời Mỹ khi đó có nhiều tôn giáo khác nhau nhưng tất cả đều là Thiên Chúa giáo,  chỉ khác nhau hệ phái. Thế nhưng khi viết hiến pháp, họ đã có tầm nhìn xa đến cả mấy thế  kỷ. Họ không áp đặt tôn giáo, không kỳ thị tôn giáo.

Thực tế khác biệt về hệ phái tôn giáo  trong số những người đầu tiên lập nghiệp ở xứ sở mới va kinh nghiệm chiến tranh tôn giáo  ở lục địa cũ (old continent) đã cho họ những bài học quý giá. Họ vẫn là những tín đồ sùng tín ngày nào, nhưng họ thực tế hơn, nhìn xa, trông rộng hơn. Bản hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 chính là viên gạch quan trọng xây dựng nên một nước Mỹ đa nguyên, đa văn hóa. Và đó không chỉ là sáo ngữ mà thực sự chính là nguyên tố căn bản tạo nên một đất nước bao  dung, phong phú mà ta biết như ngày hôm nay. Nước Mỹ chắc chắn không phải hoàn hảo,  nhưng nếu so sánh nước Mỹ và các nước đương thời khác ta không thể không thán  phục óc tiến bộ của họ.

Vào thời kỳ nước Mỹ lập quốc, những nước Á Đông chung quanh Việt Nam và cả chính nước Việt Nam ta khi đó, có mấy nước phân biệt được rạch ròi tôn giáo và quyền lực" Nếu một nhóm dân có một niềm tin khác với vương triều đương thời và  được để yên cho hành đạo, sinh hoạt thì đã là điều may mắn. Có triều đại phong kiến Á  Đông nào không muốn áp đặt tư tưởng, niềm tin của mình lên tất cả thần dân" Hiến pháp Hoa Kỳ phản ánh óc thực tế, tiến bộ của những người viết ra nó vậy.

Nội chiến Mỹ kéo dài bốn năm, để lại bao nhiêu tổn thất nặng nề, với số người chết hơn 600 ngàn, trở thành cuộc chiến tàn khốc nhất trong lịch sử Mỹ. Vị tổng thống Mỹ thời đó, ông Lincoln không phải chỉ là một lãnh tụ kiệt xuất mà ông còn là người thực tế và khôn ngoan. Ông Lincoln không đánh miền Nam vì miền Nam có chế độ nô lệ, mặc ông dù  chính ông tin vào lẽ công bằng, tin vào tương lai nước Mỹ sẽ không thể duy trì chế độ  nô lệ lâu dài. Ông hiểu rằng không thể thay đổi tư tưởng, quan niệm một bộ phận người dân một sớm một chiều, và cũng không thể chủ quan, vội vã ép buộc người khác theo chân lý của mình. Điều đó không phù hợp đối với một vị tổng thống như ông vì ông là tổng thống của tất cả chứ không phải chỉ những người cùng niềm tin với ông, và điều đó cũng không thực tế vì con người vốn chỉ thích nghi với hoàn cảnh và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc sống thực tiễn quanh mình chứ hiếm khi vì lý lẽ của người đối lập với mình.

Sử sách Mỹ kể về những biến cố dẫn đến cuộc nội chiến thảm khốc có không ít những lời chỉ trích, phê phán những người đã gây ra cuộc đẫm máu ở Kansas năm 1856 (bleeding Kansas). John Brown, nhân vật chính trong biến cố là người chống chế độ nô lệ nhờ niềm tin vào Thượng Đế, vào lẽ công bằng, có thể khẳng định ông là người dũng cảm, là người đi trước thời đại. Nhưng lịch sử vẫn đánh giá khắt khe ông vì ông thiếu thực tế, ông quá khích, vì ông cho rằng niềm tin vào chân lý của ông biện hộ cho việc ông làm. Ông và bốn người con của mình đến Kansas đánh giết một nhóm người ủng hộ nô lệ và cũng là di  dân như ông đến đây để mong biến Kansas thành một tiểu bang có chế độ nô lệ. Bạo lực bùng nổ giữa hai phe và góp phần trực tiếp dẫn đến cuộc nội chiến 5 năm sau. Một cuộc nội chiến có thể tránh được nếu những thành phần ôn hoà làm chủ được tình thế lúc đó. Tổng thống Lincoln chỉ quyết định tiến đánh miền Nam khi họ tuyên bố tách khỏi Liên Bang ngay sau khi ông đắc cử tổng thống năm 1860.

Không lỗi lạc như Lincoln, nhưng tổng thống Nixon vẫn được không ít sử gia đánh giá cao về đường lối ngoại giao thực tế trong thời gian đương nhiệm. Nhắc đến Nixon, người ta liên tưởng ngay đến chiến tranh Việt Nam và Watergate. Cánh tả phê phán ông dối trá dân Mỹ, xem ông là một tay xảo quyệt, kéo dài một cuộc chiến không thể thắng, khoét sâu hố chia rẽ trong xã hội Mỹ. Cánh hữu trách cứ ông đã trói buộc quân đội Mỹ chiến thắng Cộng Sản khi giới hạn chiến tuyến trong miền Nam Việt Nam và đã nhân nhượng với Cộng Sản.

Thời gian trôi qua, người ta có thời gian để đánh giá ông khách quan hơn. Biến cố Đông Âu và Liên Bang Xô Viết sụp đổ cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 thôi thúc nhiều nhà nghiên cứu truy tìm nguyên do sự kiện lịch sử này. Và đã xuất hiện nhiều nhận xét về ông mang tính tích cực hơn. Người ta đánh giá cao chuyến đi Bắc Kinh 1972 trong chiến lược hoà hoãn  đồng thời chia rẽ khối Cộng Sản của ông với tham mưu của cố vấn Kissinger. Trong các tổng thống Mỹ cận đại là đảng Cộng Hoà, ông Nixon thuộc trường phái thực tế. Ông cũng "bất cộng đái thiên" với Cộng Sản như tổng thống Reagan, hay mạnh mẽ như tổng thống  George W. Bush chống khủng bố Hồi giáo, nhưng ông không chịu ảnh hưởng của tư tưởng  trường phái tân bảo thủ (neo-conservative), mà ông là người thực tế, hay nói trại đi ông là  một chính trị gia thực dụng.

Chính sách ngoại giao của ông xuất phát từ lập trường chống  chủ nghĩa bành trướng Cộng Sản, và vì thế mà ông chọn sách lược bao vây, chia rẽ khối  Cộng Sản, mà đứng đầu là Liên Bang Xô Viết, để nó suy yếu dần và cộng hưởng với nhiều điều kiện khác cuối cùng nó sẽ sụp đổ. Nhưng để tránh thế giới rơi vào nguy cơ thế chiến  thứ 3 với những thứ vũ khí ghê gớm gâp bội lần 2 quả bom nguyên tử rơi xuống đất nước  Phù Tang năm 1945, ông dùng chính sách ngoại giao hoà hoãn với khối Cộng Sản. Cứng  mềm, cương nhu cùng song hành không phải chỉ là sách lược chiến tranh trong Tôn Tử  Binh Pháp, mà có thể nói nó còn là quy luật sống của nhân loại từ thời tạo thiên lập địa.

Ta  có thể chọn thái độ ca ngợi hay chê trách người Mỹ, nhưng ta khó có thể phủ nhận là  người Mỹ có óc thực tế. Hành động của họ không quá khó hiểu nếu ta không quên truy tìm  mọi động cơ xuất phát từ lợi ích của họ. Điều đó có thể phũ phàng với nhiều người nhưng  nó thật rất tự nhiên và sòng phẳng. Và nếu ta thành tâm suy niệm lại tất cả những gì ta làm,  đã có bao nhiêu hành động của ta không thực sự xuất phát từ quyền lợi" Quyền lợi ở đây  không chỉ là tiền tài, danh vọng, mà còn là cái tôi, lòng kiêu hãnh...

Đã có không biết bao  nhiêu ví dụ về những việc làm của một cá nhân, một tổ chức, hay lớn hơn nữa là một quốc  gia mà nếu chỉ nhìn bề mặt thì nó có vẻ bắt nguồn từ một mục tiêu cao cả, nhưng khi nhìn sâu hơn và khi ta có thời gian để đánh giá toàn diện hơn thì ta phát hiện động cơ sâu xa  chính là quyền lợi cá nhân, phe nhóm hay của riêng dân tộc này đối với dân tộc kia.

Trong cuộc sống hằng ngày, ta có thể nhận ra cá tính thực tế của người Mỹ trong nhiều phương diện. Một thí dụ nhỏ nhưng gần với đời thường là khi một gia đình người Mỹ vào  một nhà hàng gọi món ăn. Hoặc là mỗi người tự trả riêng hoặc nếu có ai đó muốn trả tiền  cho tất cả mọi người thì người ấy sẽ nói trước. Dù là anh em, cha mẹ và con cái đi ăn chung cũng thế, họ luôn sòng phẳng nhưng rất thực tế.

Người Việt ta có thói quen hiểu ngầm, biết nhưng không nói ra. Duy có điều, ngày càng nhiều người nhận ra điều này không còn là thượng sách, thiếu thực tế vì thật ra mọi người đâu có phải luôn đồng lòng, nghĩ giống  nhau đâu. Ngoài mặt ta có thể vì tình cha con, anh em, huynh đệ mà không nghĩ ngợi những thứ cho là nhỏ nhặt, nhưng có phải ta luôn thực sự nghĩ thế đâu. Tình cảm thực sự không đơn giản chỉ được đánh giá qua những cử chỉ "hào hiệp" tức thời. Chẳng phải ngay cả  người Việt cũng có những vụ án anh giết em, con giết cha, chồng giết vợ chỉ vì tiền đó  sao" Sao lại có thể cho rằng chỉ có người Mỹ thiếu tình cảm gia đình mới sinh ra những  chuyện tồi tệ"

Chấp nhận thực tế là một bước quan trọng trong quá trình hiểu mình, hiểu  người, để rồi sau đó ta đón nhận nó và cuối cùng là trân trọng nó. Thực tế chính là công  nhận sự thật, điều mà người không có hoặc thiếu thực tế không dám nhìn nhận nó hoặc  không muốn tìm hiểu nó.

Cách mạng có khi là giả hiệu, nhưng ngay cả khi cách mạng mang lại thay đổi chính đáng, ích nước lợi dân thì nó vẫn không bằng không có cách mạng, vì cách mạng luôn kéo theo sự thay đổi lớn lao trong cuộc sống đối với mọi tầng lớp dân chúng.

Trong lịch sử có thể nói chưa có nước nào không có cách mạng mà vẫn phát triển vì lịch sử nhân loại không bằng phẳng, không đơn giản mà đầy dẫy những đấu tranh của những tầng lớp bị trị, nghèo đói giành quyền sống, quyền tự do, độc lập. Nhưng một điều chắc chắn là nước Anh, mà cụ thể hơn là người Anglo Saxon, dân tộc đầu tiên tiên lập nghiệp, xây dựng  và góp phần lớn nhất trong việc tạo nên một nền văn hóa đa nguyên ở Mỹ, có ít cách mạng nhất và cách mạng ít đẫm máu nhất.

 Hiệp ước Magna Carta 1215 và Cách Mạng Huy Hoàng (Glorious Revolution) 1688 theo thứ tự đem lại nhiều quyền hơn cho quý tộc và nghị viện Anh, giảm bớt quyền lực của hoàng gia, và tránh được tối đa sự đổ máu. Đó chính là những cột mốc đánh dấu sự dịch chuyển quyền thế từ cao xuống thấp trong xã hội Anh nói riêng và cả nhân loại nói chung. Người Anglo-Saxon thực tế nên họ biết ngồi lại thương thảo với nhau, không ngoan cố, "thắng không kiêu," người ngồi trên biết lùi khi đến lúc, kẻ dưới biết tiến vừa phải, không quá khích.

Cách mạng Pháp 1789 kéo theo nó biết bao hỗn loạn, giêt chóc một phần vì người Pháp thiếu óc thực tế như người Anh, mà cách mạng thì dễ quá đà vì những người vừa lên nắm quyền thì tự phụ, còn đám dân đen thì thiếu thực tế, tưởng cách mạng là đổi đời, là từ nghèo ra giàu. Gần đây hơn, ta còn thấy điều đó ở Nga năm 1917, Trung Hoa những năm 1911, 1965, và cả ở Việt Nam...

Lịch sử có vô vàn sự kiện diễn tiến liên tiếp nhau. Nhưng nếu ta nhìn vào những thuộc địa của Anh 2, 3 thế kỷ trước và bây giờ là những đất nước giàu có như Mỹ, Canada, Úc và so sánh những nước này với các thuộc địa của Pháp, Tây Ban Nha thì ta thấy gì" Người Pháp và Tây Ban Nha chú tâm truyền bá văn hóa, tôn giáo của họ đến các thuộc địa hơn là phát triển thương nghiệp, kiến thiết thuộc địa. Ngoài những lý do khác thì đó là những  nguyên nhân quan trọng góp phần trì hoãn sự phát triển các thuộc địa của Pháp và Tây Ban  Nha so với các thuộc địa của Anh.

Đến ngày hôm nay, người dân những nước một thời là  thuộc địa tâm tư thế nào đối với những người da trắng đô hộ họ ngày xưa, ta có thể thấy là lòng thương ghét đối với người Pháp và Tây Ban Nha cũng gần giống với người Anh.  Tốn bao nhiêu xương máu, tâm trí để "giáo hóa" dân bản xứ để rồi không gặt hái được hơn tình cảm dân thuộc địa mà còn đẩy các xứ thuộc địa lâm vào tình trạng trì trệ so với  các thuộc địa của Anh thì có thể xem là thành công được chăng" Người Anh thực tế, họ  chỉ chú trọng thương mãi và hiểu rằng truyền bá tôn giáo, văn hóa có thể tạo được cảm  tình của một bộ phận dân chúng nhưng cũng tạo sự chia rẽ, thù ghét của những bộ phận  dân chúng khác. Văn hoá, tôn giáo mỗi nơi khác nhau, nhưng khát vọng cuộc sống hằng  ngày được ấm no, sung túc thì đâu cũng thế. Như vậy, phát triển thương mại không phải là  dung hòa và thực tế nhất đó sao" Trong những di sản người Mỹ thừa kế được từ người Anh thì tính thực tế phải được liệt vào hàng đầu.

Ta có thể tin vào đấng toàn năng, nhưng ta không thể phủ nhận thực tế cuộc sống muôn mặt. Ta có thể rơi vào tâm trạng hoang mang, cô đơn khi nhận ra thực tế không như những quan niệm, lập trường ta ấp ủ, nhưng thực tế khách quan không chờ đợi ta công nhận nó hay không. Lịch sử loài người mặc dù luôn được đánh dấu bởi những sáng tạo, phát minh vĩ đại của con người, nhưng từ ngày khai thiên lập địa bốn tỉ năm trái đất hiện hữu vẫn chủ yếu là quá trình thích nghi của loài người với thiên nhiên. Loài người tồn tại và phát triển là vì biết thích nghi với hoàn cảnh, không như biết bao loài thú khác vì không thích nghi mà phải diệt vong. Chẳng  phải Darwin đã đưa ra thuyết "sự tồn tại của những loài biết thích nghi nhất" là cùng một ý đó sao"

Tôn giáo và khoa học không mâu thuẫn vì tôn giáo nói đến cái bao la, vô hạn và vô hình còn khoa học thì nói đến cái hiện hữu, cái giới hạn. Cuộc sống vốn đa diện, phong phú, trong  đó có những cái vừa mâu thuẫn vừa tương hỗ nhau cùng tồn tại nhưng nó hé mở cho ta  một cái nhìn, ở đó ta giữ được những niềm tin kín đáo, sâu thẳm nhất mà vẫn đồng  hành tiến bộ trong hoà bình cùng nhân loại. Thực tế tức là linh động, không câu chấp, gượng ép thế giới khách quan vào trong cái túi hiểu biết bé nhỏ và định kiến chủ quan của ta, mà uyển chuyển thích ứng với cuộc sống muôn mặt. Nếu ai đó bảo rằng văn minh  Á Đông với bao túi khôn của tiền nhân, trong đó có Kinh Dịch bàn về sự biến thiên  vô cùng trong vũ trụ và kết luận rằng không phải chỉ có người Mỹ mới hiểu sâu sắc về thực  tế thì cũng không sai vậy. Nhưng ta đã ứng dụng nó chưa, hay ứng dụng một cách hiệu  quả chưa"

Bài viết gom nhặt những suy nghĩ tản mạn của người viết để chia sẻ cùng bạn đọc, mà không có ý biến nó thành một bài nghiên cứu nên đã không trích dẫn những tài liệu tham  khảo vốn có thể làm cho bài viết trở nên khô khan.

Tháng 1, 2008 West Palm Beach

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sách "The Room Where It Happened” của Bolton viết về thời gian ông làm việc tại Tòa Bạch Ốc, điều đó khiến cho TT Trump lo ngại. Sách này ra mắt trước ngày bầu cử Hoa Kỳ, ngày bầu cử là ngày 3 tháng 11 năm 2020. Sách ra mắt vào cận ngày bầu cử, Bolton mới có hy vọng “Nhất tiễn song điêu” hay “Nhất tiễn hạ song điêu” là một mũi tên bắn được 2 con chim. - Thứ nhất sách ra mắt cận vào ngày bầu cử sẽ có nhiều người háo hức mua để xem, từ đấy Bolton sẽ thu về vài triệu Mỹ kim. - Thứ hai, Tổng thống Trump “đã yêu cầu John Bolton từ chức." Do đấy, ra mắt sách trước ngày bầu cử, với những chỉ trích TT Trump rất nặng nề trong sách, sẽ khiến cho TT Trump khó khăn trong việc vận động tranh cử tổng thống hay TT Trump có thể sẽ thất cử.
Với ít nhiều lạc quan, và chủ quan, tôi tin rằng dịch Vũ Hán rồi sẽ qua trong tương lai gần. Quả đất vẫn cứ quay đấy thôi. Kinh tế rồi sẽ hồi phục dần dần. Nhân loại lại tiếp tục sinh hoạt y như cũ, với ý thức vệ sinh (và cộng sinh) lành mạnh hơn xưa. Quan hệ toàn cầu sẽ trở lại bình thường, trừ mỗi cái nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc (People’s Republic of China) thì tôi … không hoàn toàn bảo đảm. Tôi (dám) có chút máu Tầu nên chả hà cớ chi mà lại đi kỳ thị gần một phần năm dân số toàn cầu. Vấn đề là cái tôi của những vỹ lãnh đạo ở xứ sở này quá lớn, nhất là ông Tập Cận Bình – Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Nước và Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương – người đã đẩy cả nước đi trật đường rầy quá xa (tới mấp mé hố thẳm luôn) nên hiện tình Trung Hoa – xem ra – không còn thuốc chữa. Phen này (e) sẽ lôi thôi lớn, lôi thôi lâu, và lôi thôi lắm!
Những bằng chứng mua bán chức quyền vừa được báo The Age và Chương trình 60 Minutes của đài ABC phanh phui, khiến Thủ hiến Victoria Daniel Andrews phải sa thải một bộ trưởng, 2 bộ trưởng xin từ chức và nhiều chính trị gia đảng Lao Động tại Victoria đang bị cảnh sát và Ủy Ban chống tham nhũng điều tra. Ban điều hành đảng Lao Động toàn quốc phải đề cử 2 cựu chính trị gia có uy tín lãnh đạo một cuộc điều tra nội bộ, đồng thời trong vòng 3 năm tới các chi bộ tại Victoria mất quyền đưa người ra tranh cử. Chính phủ tiểu bang Victoria (với 6,3 triệu dân) đã ký kết các biên bản nghi nhớ và hợp đồng riêng tham gia dự án "Vành đai và Con đường" với Bắc Kinh, và đang bị chính phủ Liên bang phản đối. Điều này khiến dư luận, gồm nhiều cử tri Úc gốc Việt đặt câu hỏi rằng việc xảy ra tại tiểu bang Victoria có ảnh hưởng gì đến các ký kết với Trung cộng hay là không?
Hiệp hội các Nhà sách Đức thông báo là Giải thưởng Hòa bình của Đức năm 2020 (Friedenspreis des Deutschen Buchhandels) sẽ trao cho Amartya Sen, 86 tuổi, nhà triết học Ấn Độ, Giáo sư Kinh tế Đại học Harvard và là người đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1998. Giải thưởng cao quý này được thành lập từ năm 1950 tại Đức. Theo truyền thống, lễ trao giải diễn ra trong ngày cuối Hội chợ sách Frankfurt 18 tháng 10 tại Paulskirche, Frankfurt và sẽ được các đài Đức truyền hình trực tiếp. Trong dịp vinh danh này, Amartya Sen được trao tặng 25.000 euro.
Bạn tôi, tất cả, phần lớn đều là lính ráo. Chúng tôi không chỉ có chung những năm cầm súng, và một quãng đời tù mà còn chia chung rất nhiều … cố tật!. Hễ gặp nhau là uống, và câu chuyện trên bàn rượu trước sau gì rồi cũng xoay quanh kỷ niệm về đám chiến hữu hồi còn chinh chiến: những thằng đã chết, những đứa đang vất vưởng ở quê nhà, hay lưu lạc (đâu đó) nơi đất lạ xứ người.
"Tôi nhìn ông ta (George Floyd) và tôi thật sự nghĩ người đó đã có thể là tôi." Đó là điểu mà vị Surgeon General (Y sĩ trưởng) Jerome Adams nói về Floyd. Tại sao vi bác sĩ đứng đầu ngành Y chính phủ liên bang Hoa Kỳ, một nhân vật cấp cao từng đứng chung sân khấu với TT Trump trong những buổi họp báo về coronavirus, lại tự so sánh mình với Floyd, một người tiền án tiền sự đầy một danh sách?
Mấy hôm nay, cái chết của người da đen George Floyd ở Minneapolis, Huê kỳ, đã bổng chốc làm bùng lên phong trào dân chúng, da đen và cả da không đen, ủng hộ nạn nhơn đen, nổi lên, xuống đường ở nhiều thành phố lớn của Pháp, chống bạo hành và kỳ thị của cảnh sát. Omar Sy, da đen, sanh ở Trappes, ngoại ô Tây-Nam Paris (78), nghệ sĩ hài hước, diển viên điện ảnh, lên tiếng tuyên bố «Bạo hành cảnh sát là vấn đề của mọi người»! Là cơ hội bằng vàng để báo chí nhập cuộc. Báo chí Pháp hết 80% là khuynh tả, được chánh phủ tài trợ, (tùy theo số ấn phẩm bán được, từ 500 000 €/năm cho tới 6 000 000 €/năm), loan tin, bình luận, khai thác thị hiếu độc/thính giả để có đông độc giả, được tăng trợ cấp. Phong trào dân chúng nổi lên chống bạo hành và kỳ thị do cảnh sát gây ra, trên thực tế, đã không còn biên giới. Trước phản ứng của những người biểu tình trên thế giới, cảnh sát không còn là «bạn dân» nữa, mà đã trở thành hung thần! Chỉ có cảnh sát ở Tàu và Việt nam là không bị chỉ mặt vì họ là cảnh sát
Cuộc khủng hoảng do virút corona đang tạo ra một môi trường toàn cầu nhiều cạnh tranh hơn, với sự "đối đầu" phát triển nhanh hơn là "hợp tác". Liên Minh Âu Châu chúng ta phải đối mặt với những vùng biển khắc nghiệt hơn và có nguy cơ bị cuốn vào những dòng chảy chéo chiều của các cường quốc đang đòi chúng ta chọn phe rõ rệt. Những thứ được coi là kỹ thuật và không phải là "chính trị cao", chẳng hạn như đầu tư và thương mại, công nghệ và tiền tệ, nay là thành phần của một cuộc cạnh tranh công khai, hoặc thậm chí là đối đầu. Những thứ mà người ta có thể dựa vào một cách vững chắc, như dữ kiện và khoa học, hiện đang bị thách thức và cuốn vào trận chiến của những bài tường thuật, khuếch đại thêm qua những phương tiện truyền thông xã hội.
Câu hỏi đang đặt ra ở Biển Đông là Trung Quốc có âm mưu gì khi bất ngờ gia tăng đe dọa và phủ nhận quyền chủ quyền của các nước có tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai và Brunei, vào lúc cả thế giới lo phòng, chống dịch nạn Vũ Hán, xuất phát từ Trung Quốc từ đầu năm 2020 (Coronavirus disease 2019 (COVID-19). Để trả lời cho thắc mắc này, cũng như liệu tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông có đưa đên nguy cơ chiến tranh hay không, xin mời bạn đọc theo dõi nội dung Cuộc phỏng vấn của tôi với Giáo sư ngoại hạng (Professor Emeritus), Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng, người từng giảng dậy nhiều năm về Quan hệ Quốc tế tại Đại học George Mason, gần Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Giáo sư Hùng là Học giả cao cấp bất thường trú của Trung tâm nghiên cứu Chiến lươc và quan hệ Quốc tế ở Washington, D.C. (Center for Strategic and International Studies, CSIS). Ngoài ra ông còn là Học giả vãng lai hai niên khóa 2015-2016 tại viện nghiên cứu nổi tiếng ISEAS-Yusof Is
Sau khi ông George Floyd bị chết dưới bạo lực cảnh sát, một phong trào biểu tình chống kỳ thị người da đen đã bùng nổ và lan rộng khắp nước Mỹ và trên thế giới. Phong trào có sự tham gia của mọi tầng lớp, của nhiều sắc tộc khác nhau, trong đó có người Việt Nam. Sự kiện này đã dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong tập thể người Việt, do cách nhìn trái chiều về vấn đề kỳ thị chủng tộc đối với người da đen và phong trào Black Lives Matter. Đặc biệt là giữa thế hệ trẻ và thế hệ những người lớn tuổi trong cộng đồng. Là một tổ chức đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền Việt Nam, với chủ trương Đấu tranh bất bạo động, đảng Việt Tân đã từng lên tiếng ủng hộ các phong trào biểu tình của người dân như ở Hong Kong. Chúng tôi có cuộc phỏng vấn với ông Hoàng Tứ Duy, Phát ngôn nhân Đảng Việt Tân, về nhận xét của ông đối với phong trào Black Lives Matter và sự tham gia của giới trẻ Việt Nam trong các cuộc xuống đường đòi công lý cho người Mỹ da đen.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.