Hôm nay,  

Người Mỹ Thực Tế

08/01/200800:00:00(Xem: 11412)

Hiến pháp Mỹ được thông qua năm 1787, trong đó không hề có một chữ "Thượng Đế" (God). Thời kỳ đó cách nay đã hơn hai thế kỷ, người dân Mỹ khi đó tuyệt đại bộ phận là dân Anglo-Saxon di cư từ vương quốc Anh sang tìm tự do tôn giáo hoặc mưu cầu một sự đổi đời, làm giàu. Với dân số gần 4 triệu khi Liên Bang Hoa Kỳ được thành lập, nguời Mỹ khi đó có nhiều tôn giáo khác nhau nhưng tất cả đều là Thiên Chúa giáo,  chỉ khác nhau hệ phái. Thế nhưng khi viết hiến pháp, họ đã có tầm nhìn xa đến cả mấy thế  kỷ. Họ không áp đặt tôn giáo, không kỳ thị tôn giáo.

Thực tế khác biệt về hệ phái tôn giáo  trong số những người đầu tiên lập nghiệp ở xứ sở mới va kinh nghiệm chiến tranh tôn giáo  ở lục địa cũ (old continent) đã cho họ những bài học quý giá. Họ vẫn là những tín đồ sùng tín ngày nào, nhưng họ thực tế hơn, nhìn xa, trông rộng hơn. Bản hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 chính là viên gạch quan trọng xây dựng nên một nước Mỹ đa nguyên, đa văn hóa. Và đó không chỉ là sáo ngữ mà thực sự chính là nguyên tố căn bản tạo nên một đất nước bao  dung, phong phú mà ta biết như ngày hôm nay. Nước Mỹ chắc chắn không phải hoàn hảo,  nhưng nếu so sánh nước Mỹ và các nước đương thời khác ta không thể không thán  phục óc tiến bộ của họ.

Vào thời kỳ nước Mỹ lập quốc, những nước Á Đông chung quanh Việt Nam và cả chính nước Việt Nam ta khi đó, có mấy nước phân biệt được rạch ròi tôn giáo và quyền lực" Nếu một nhóm dân có một niềm tin khác với vương triều đương thời và  được để yên cho hành đạo, sinh hoạt thì đã là điều may mắn. Có triều đại phong kiến Á  Đông nào không muốn áp đặt tư tưởng, niềm tin của mình lên tất cả thần dân" Hiến pháp Hoa Kỳ phản ánh óc thực tế, tiến bộ của những người viết ra nó vậy.

Nội chiến Mỹ kéo dài bốn năm, để lại bao nhiêu tổn thất nặng nề, với số người chết hơn 600 ngàn, trở thành cuộc chiến tàn khốc nhất trong lịch sử Mỹ. Vị tổng thống Mỹ thời đó, ông Lincoln không phải chỉ là một lãnh tụ kiệt xuất mà ông còn là người thực tế và khôn ngoan. Ông Lincoln không đánh miền Nam vì miền Nam có chế độ nô lệ, mặc ông dù  chính ông tin vào lẽ công bằng, tin vào tương lai nước Mỹ sẽ không thể duy trì chế độ  nô lệ lâu dài. Ông hiểu rằng không thể thay đổi tư tưởng, quan niệm một bộ phận người dân một sớm một chiều, và cũng không thể chủ quan, vội vã ép buộc người khác theo chân lý của mình. Điều đó không phù hợp đối với một vị tổng thống như ông vì ông là tổng thống của tất cả chứ không phải chỉ những người cùng niềm tin với ông, và điều đó cũng không thực tế vì con người vốn chỉ thích nghi với hoàn cảnh và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc sống thực tiễn quanh mình chứ hiếm khi vì lý lẽ của người đối lập với mình.

Sử sách Mỹ kể về những biến cố dẫn đến cuộc nội chiến thảm khốc có không ít những lời chỉ trích, phê phán những người đã gây ra cuộc đẫm máu ở Kansas năm 1856 (bleeding Kansas). John Brown, nhân vật chính trong biến cố là người chống chế độ nô lệ nhờ niềm tin vào Thượng Đế, vào lẽ công bằng, có thể khẳng định ông là người dũng cảm, là người đi trước thời đại. Nhưng lịch sử vẫn đánh giá khắt khe ông vì ông thiếu thực tế, ông quá khích, vì ông cho rằng niềm tin vào chân lý của ông biện hộ cho việc ông làm. Ông và bốn người con của mình đến Kansas đánh giết một nhóm người ủng hộ nô lệ và cũng là di  dân như ông đến đây để mong biến Kansas thành một tiểu bang có chế độ nô lệ. Bạo lực bùng nổ giữa hai phe và góp phần trực tiếp dẫn đến cuộc nội chiến 5 năm sau. Một cuộc nội chiến có thể tránh được nếu những thành phần ôn hoà làm chủ được tình thế lúc đó. Tổng thống Lincoln chỉ quyết định tiến đánh miền Nam khi họ tuyên bố tách khỏi Liên Bang ngay sau khi ông đắc cử tổng thống năm 1860.

Không lỗi lạc như Lincoln, nhưng tổng thống Nixon vẫn được không ít sử gia đánh giá cao về đường lối ngoại giao thực tế trong thời gian đương nhiệm. Nhắc đến Nixon, người ta liên tưởng ngay đến chiến tranh Việt Nam và Watergate. Cánh tả phê phán ông dối trá dân Mỹ, xem ông là một tay xảo quyệt, kéo dài một cuộc chiến không thể thắng, khoét sâu hố chia rẽ trong xã hội Mỹ. Cánh hữu trách cứ ông đã trói buộc quân đội Mỹ chiến thắng Cộng Sản khi giới hạn chiến tuyến trong miền Nam Việt Nam và đã nhân nhượng với Cộng Sản.

Thời gian trôi qua, người ta có thời gian để đánh giá ông khách quan hơn. Biến cố Đông Âu và Liên Bang Xô Viết sụp đổ cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 thôi thúc nhiều nhà nghiên cứu truy tìm nguyên do sự kiện lịch sử này. Và đã xuất hiện nhiều nhận xét về ông mang tính tích cực hơn. Người ta đánh giá cao chuyến đi Bắc Kinh 1972 trong chiến lược hoà hoãn  đồng thời chia rẽ khối Cộng Sản của ông với tham mưu của cố vấn Kissinger. Trong các tổng thống Mỹ cận đại là đảng Cộng Hoà, ông Nixon thuộc trường phái thực tế. Ông cũng "bất cộng đái thiên" với Cộng Sản như tổng thống Reagan, hay mạnh mẽ như tổng thống  George W. Bush chống khủng bố Hồi giáo, nhưng ông không chịu ảnh hưởng của tư tưởng  trường phái tân bảo thủ (neo-conservative), mà ông là người thực tế, hay nói trại đi ông là  một chính trị gia thực dụng.

Chính sách ngoại giao của ông xuất phát từ lập trường chống  chủ nghĩa bành trướng Cộng Sản, và vì thế mà ông chọn sách lược bao vây, chia rẽ khối  Cộng Sản, mà đứng đầu là Liên Bang Xô Viết, để nó suy yếu dần và cộng hưởng với nhiều điều kiện khác cuối cùng nó sẽ sụp đổ. Nhưng để tránh thế giới rơi vào nguy cơ thế chiến  thứ 3 với những thứ vũ khí ghê gớm gâp bội lần 2 quả bom nguyên tử rơi xuống đất nước  Phù Tang năm 1945, ông dùng chính sách ngoại giao hoà hoãn với khối Cộng Sản. Cứng  mềm, cương nhu cùng song hành không phải chỉ là sách lược chiến tranh trong Tôn Tử  Binh Pháp, mà có thể nói nó còn là quy luật sống của nhân loại từ thời tạo thiên lập địa.

Ta  có thể chọn thái độ ca ngợi hay chê trách người Mỹ, nhưng ta khó có thể phủ nhận là  người Mỹ có óc thực tế. Hành động của họ không quá khó hiểu nếu ta không quên truy tìm  mọi động cơ xuất phát từ lợi ích của họ. Điều đó có thể phũ phàng với nhiều người nhưng  nó thật rất tự nhiên và sòng phẳng. Và nếu ta thành tâm suy niệm lại tất cả những gì ta làm,  đã có bao nhiêu hành động của ta không thực sự xuất phát từ quyền lợi" Quyền lợi ở đây  không chỉ là tiền tài, danh vọng, mà còn là cái tôi, lòng kiêu hãnh...

Đã có không biết bao  nhiêu ví dụ về những việc làm của một cá nhân, một tổ chức, hay lớn hơn nữa là một quốc  gia mà nếu chỉ nhìn bề mặt thì nó có vẻ bắt nguồn từ một mục tiêu cao cả, nhưng khi nhìn sâu hơn và khi ta có thời gian để đánh giá toàn diện hơn thì ta phát hiện động cơ sâu xa  chính là quyền lợi cá nhân, phe nhóm hay của riêng dân tộc này đối với dân tộc kia.

Trong cuộc sống hằng ngày, ta có thể nhận ra cá tính thực tế của người Mỹ trong nhiều phương diện. Một thí dụ nhỏ nhưng gần với đời thường là khi một gia đình người Mỹ vào  một nhà hàng gọi món ăn. Hoặc là mỗi người tự trả riêng hoặc nếu có ai đó muốn trả tiền  cho tất cả mọi người thì người ấy sẽ nói trước. Dù là anh em, cha mẹ và con cái đi ăn chung cũng thế, họ luôn sòng phẳng nhưng rất thực tế.

Người Việt ta có thói quen hiểu ngầm, biết nhưng không nói ra. Duy có điều, ngày càng nhiều người nhận ra điều này không còn là thượng sách, thiếu thực tế vì thật ra mọi người đâu có phải luôn đồng lòng, nghĩ giống  nhau đâu. Ngoài mặt ta có thể vì tình cha con, anh em, huynh đệ mà không nghĩ ngợi những thứ cho là nhỏ nhặt, nhưng có phải ta luôn thực sự nghĩ thế đâu. Tình cảm thực sự không đơn giản chỉ được đánh giá qua những cử chỉ "hào hiệp" tức thời. Chẳng phải ngay cả  người Việt cũng có những vụ án anh giết em, con giết cha, chồng giết vợ chỉ vì tiền đó  sao" Sao lại có thể cho rằng chỉ có người Mỹ thiếu tình cảm gia đình mới sinh ra những  chuyện tồi tệ"

Chấp nhận thực tế là một bước quan trọng trong quá trình hiểu mình, hiểu  người, để rồi sau đó ta đón nhận nó và cuối cùng là trân trọng nó. Thực tế chính là công  nhận sự thật, điều mà người không có hoặc thiếu thực tế không dám nhìn nhận nó hoặc  không muốn tìm hiểu nó.

Cách mạng có khi là giả hiệu, nhưng ngay cả khi cách mạng mang lại thay đổi chính đáng, ích nước lợi dân thì nó vẫn không bằng không có cách mạng, vì cách mạng luôn kéo theo sự thay đổi lớn lao trong cuộc sống đối với mọi tầng lớp dân chúng.

Trong lịch sử có thể nói chưa có nước nào không có cách mạng mà vẫn phát triển vì lịch sử nhân loại không bằng phẳng, không đơn giản mà đầy dẫy những đấu tranh của những tầng lớp bị trị, nghèo đói giành quyền sống, quyền tự do, độc lập. Nhưng một điều chắc chắn là nước Anh, mà cụ thể hơn là người Anglo Saxon, dân tộc đầu tiên tiên lập nghiệp, xây dựng  và góp phần lớn nhất trong việc tạo nên một nền văn hóa đa nguyên ở Mỹ, có ít cách mạng nhất và cách mạng ít đẫm máu nhất.

 Hiệp ước Magna Carta 1215 và Cách Mạng Huy Hoàng (Glorious Revolution) 1688 theo thứ tự đem lại nhiều quyền hơn cho quý tộc và nghị viện Anh, giảm bớt quyền lực của hoàng gia, và tránh được tối đa sự đổ máu. Đó chính là những cột mốc đánh dấu sự dịch chuyển quyền thế từ cao xuống thấp trong xã hội Anh nói riêng và cả nhân loại nói chung. Người Anglo-Saxon thực tế nên họ biết ngồi lại thương thảo với nhau, không ngoan cố, "thắng không kiêu," người ngồi trên biết lùi khi đến lúc, kẻ dưới biết tiến vừa phải, không quá khích.

Cách mạng Pháp 1789 kéo theo nó biết bao hỗn loạn, giêt chóc một phần vì người Pháp thiếu óc thực tế như người Anh, mà cách mạng thì dễ quá đà vì những người vừa lên nắm quyền thì tự phụ, còn đám dân đen thì thiếu thực tế, tưởng cách mạng là đổi đời, là từ nghèo ra giàu. Gần đây hơn, ta còn thấy điều đó ở Nga năm 1917, Trung Hoa những năm 1911, 1965, và cả ở Việt Nam...

Lịch sử có vô vàn sự kiện diễn tiến liên tiếp nhau. Nhưng nếu ta nhìn vào những thuộc địa của Anh 2, 3 thế kỷ trước và bây giờ là những đất nước giàu có như Mỹ, Canada, Úc và so sánh những nước này với các thuộc địa của Pháp, Tây Ban Nha thì ta thấy gì" Người Pháp và Tây Ban Nha chú tâm truyền bá văn hóa, tôn giáo của họ đến các thuộc địa hơn là phát triển thương nghiệp, kiến thiết thuộc địa. Ngoài những lý do khác thì đó là những  nguyên nhân quan trọng góp phần trì hoãn sự phát triển các thuộc địa của Pháp và Tây Ban  Nha so với các thuộc địa của Anh.

Đến ngày hôm nay, người dân những nước một thời là  thuộc địa tâm tư thế nào đối với những người da trắng đô hộ họ ngày xưa, ta có thể thấy là lòng thương ghét đối với người Pháp và Tây Ban Nha cũng gần giống với người Anh.  Tốn bao nhiêu xương máu, tâm trí để "giáo hóa" dân bản xứ để rồi không gặt hái được hơn tình cảm dân thuộc địa mà còn đẩy các xứ thuộc địa lâm vào tình trạng trì trệ so với  các thuộc địa của Anh thì có thể xem là thành công được chăng" Người Anh thực tế, họ  chỉ chú trọng thương mãi và hiểu rằng truyền bá tôn giáo, văn hóa có thể tạo được cảm  tình của một bộ phận dân chúng nhưng cũng tạo sự chia rẽ, thù ghét của những bộ phận  dân chúng khác. Văn hoá, tôn giáo mỗi nơi khác nhau, nhưng khát vọng cuộc sống hằng  ngày được ấm no, sung túc thì đâu cũng thế. Như vậy, phát triển thương mại không phải là  dung hòa và thực tế nhất đó sao" Trong những di sản người Mỹ thừa kế được từ người Anh thì tính thực tế phải được liệt vào hàng đầu.

Ta có thể tin vào đấng toàn năng, nhưng ta không thể phủ nhận thực tế cuộc sống muôn mặt. Ta có thể rơi vào tâm trạng hoang mang, cô đơn khi nhận ra thực tế không như những quan niệm, lập trường ta ấp ủ, nhưng thực tế khách quan không chờ đợi ta công nhận nó hay không. Lịch sử loài người mặc dù luôn được đánh dấu bởi những sáng tạo, phát minh vĩ đại của con người, nhưng từ ngày khai thiên lập địa bốn tỉ năm trái đất hiện hữu vẫn chủ yếu là quá trình thích nghi của loài người với thiên nhiên. Loài người tồn tại và phát triển là vì biết thích nghi với hoàn cảnh, không như biết bao loài thú khác vì không thích nghi mà phải diệt vong. Chẳng  phải Darwin đã đưa ra thuyết "sự tồn tại của những loài biết thích nghi nhất" là cùng một ý đó sao"

Tôn giáo và khoa học không mâu thuẫn vì tôn giáo nói đến cái bao la, vô hạn và vô hình còn khoa học thì nói đến cái hiện hữu, cái giới hạn. Cuộc sống vốn đa diện, phong phú, trong  đó có những cái vừa mâu thuẫn vừa tương hỗ nhau cùng tồn tại nhưng nó hé mở cho ta  một cái nhìn, ở đó ta giữ được những niềm tin kín đáo, sâu thẳm nhất mà vẫn đồng  hành tiến bộ trong hoà bình cùng nhân loại. Thực tế tức là linh động, không câu chấp, gượng ép thế giới khách quan vào trong cái túi hiểu biết bé nhỏ và định kiến chủ quan của ta, mà uyển chuyển thích ứng với cuộc sống muôn mặt. Nếu ai đó bảo rằng văn minh  Á Đông với bao túi khôn của tiền nhân, trong đó có Kinh Dịch bàn về sự biến thiên  vô cùng trong vũ trụ và kết luận rằng không phải chỉ có người Mỹ mới hiểu sâu sắc về thực  tế thì cũng không sai vậy. Nhưng ta đã ứng dụng nó chưa, hay ứng dụng một cách hiệu  quả chưa"

Bài viết gom nhặt những suy nghĩ tản mạn của người viết để chia sẻ cùng bạn đọc, mà không có ý biến nó thành một bài nghiên cứu nên đã không trích dẫn những tài liệu tham  khảo vốn có thể làm cho bài viết trở nên khô khan.

Tháng 1, 2008 West Palm Beach

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết với tỷ lệ 6-3 trong vụ kiện Trump rằng Đạo Luật Quyền Lực Kinh Tế Khẩn Cấp Quốc Tế (IEEPA) không cho phép tổng thống áp đặt thuế quan, vô hiệu hóa các mức thuế quan rộng khắp đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, đến Mexico và Canada, đã được chính quyền Trump ban hành nhằm chống lại nạn buôn bán fentanyl và giải quyết thâm hụt thương mại.
Khi những trang hồ sơ Epstein lần lượt phơi bày ra trước công chúng như một trận mưa giấy màu đen đầy chất độc hại, có hai người phụ nữ bước ra trong bóng tối của kẻ săn mồi. Họ hiện diện ở hai tư thế hoàn toàn khác nhau, nhưng có một điểm trùng lắp với cái tên đang là nỗi ám ảnh trong ngôi nhà quyền lực nhất ở Washington, DC. Cuộc đời của hai người phụ nữ này, trực tiếp và gián tiếp, đều liên quan đến Jeffrey Epstein, tội phạm tình dục đã bị kết án và được cho là đã tự tử trong lúc thụ án.
Trên mặt tiền trụ sở của Mussolini ở Rome, từng có một dãy chữ khổng lồ lặp đi lặp lại: “SI SI SI SI SI” – “vâng, vâng, vâng, vâng, vâng” in kín cả mấy tầng lầu. Hình ảnh ấy không phải khẩu hiệu phức tạp, cũng không phải bản cương lĩnh chính trị. Nó giống như bản tóm tắt cô đọng của một chế độ sống nhờ thói quen gật đầu: chủ nghĩa phát xít không chỉ đứng trên những mệnh lệnh, mà đứng trên những tiếng “vâng” người ta nói ra – và cả những tiếng “không” bị nuốt lại.
Thế giới đang đứng trước nguy cơ bất ổn nghiêm trọng về an ninh chiến lược khi Hiệp ước New START – thỏa thuận quốc tế được Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev ký kết năm 2010 nhằm giới hạn kho vũ khí hạt nhân của hai nước – sẽ chính thức hết hạn vào ngày 5 tháng 2 năm 2026. Theo nội dung các điều khoản của hiệp ước, mỗi bên không được triển khai quá 700 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM), tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) và oanh tạc cơ có khả năng mang vũ khí hạt nhân; tổng số đầu đạn hạt nhân không vượt quá 1.550. Ngoài ra, số bệ phóng của mỗi nước bị giới hạn ở mức 800, và hai bên được quyền tiến hành các cuộc thanh sát lẫn nhau hằng năm, dù cơ chế này đã không còn được thực thi trong những năm gần đây. Dưới thời Tổng thống Joe Biden, vào năm 2021, New START đã được gia hạn một lần duy nhất thêm 5 năm.
Trong 22 năm làm cảnh sát, Phuson Nguyễn, một cảnh sát thủ đô (MPD), sinh năm 1979, con của một vị đại tá miền Nam Việt Nam, đã đối phó với hàng ngàn cuộc biểu tình theo Tu Chính Án Thứ Nhất. Lớn, nhỏ đều có. Anh nhận lệnh đến cuộc biểu tình ngày 6/1/2021 cũng bình thường như thế, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp của người dân. Lực lượng MPD có mặt ở thủ đô từ khoảng 10 giờ sáng. Cho đến lúc đó, MPD không nhận được bất kỳ thông tin tình báo nào cho thấy sẽ có bạo lực xảy ra. Ngồi trong xe tuần tra, Phuson quan sát người qua lại trong thủ đô. Theo thời gian, ngày càng nhiều người đi về phía Điện Capitol. Nhưng cả anh và đơn vị không nghĩ gì cả, “ít nhất là tôi và đơn vị của tôi, nghĩ rằng họ chỉ đến đó để biểu tình, và bày tỏ quan điểm, sự bất đồng của họ về kết quả bầu cử, điều mà họ có quyền làm.”
Cuối năm 1988, một chiếc ghe gỗ ọp ẹp chở 110 người Việt rời bờ trong đêm, lao ra biển Đông. Ba mươi bảy ngày lênh đênh, máy chết, ghe lạc ngoài khơi xa, lương thực và nước ngọt cạn dần; hơn phân nửa người trên ghe lần lượt gục xuống, xác họ thả xuống biển cho ghe nhẹ đi mà tiếp tục cuộc hành trình. Khi ngư dân Phi Luật Tân vớt được chiếc ghe gần thị trấn Bolinao, chỉ còn 52 người bám được vào cõi sống – về sau người ta gọi họ là Bolinao 52, đưa vào trại tị nạn, rồi lần lượt từng người đi định cư ở các xứ tự do. Những người chết mất xác cũng mất luôn tên gọi.
Trong nhiều tuần qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã huy động khoảng 3.000 nhân viên thuộc Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) đến Minneapolis, thành phố lớn nhất của bang Minnesota. Những hành động truy quét tàn bạo của ICE nhắm vào người nhập cư bất hợp pháp dẫn đến cái chết của Renee Nicole Good và Alex Pretti, hai người dân Mỹ da trắng, đã gây phẫn nộ trong dư luận và truyền thông quốc tế. Thực tế cho thấy ICE còn theo đuổi những mục tiêu chính trị rộng lớn hơn do Tổng thống Mỹ Donald Trump đề ra.
Lực Lượng Hải Quân Mỹ đang lặng lẽ thay đổi vị trí hoạt động, đúng vào thời điểm Iran, Nga và Trung Quốc đang thể hiện sự đoàn kết hải quân ngày càng tăng ở một số vùng biển căng thẳng và tranh chấp nhất trên thế giới. Theo các báo cáo khu vực, tàu sân bay USS Abraham Lincoln đã di chuyển về phía nam, định vị mình xa hơn bờ biển Iran so với trước đây.
Nếu chú ý, cú rơi tự do của tờ Washington Post gần như được báo trước từ giữa năm 2024, với nhiều tầng lý do. Thói quen độc giả thay đổi. Doanh thu quảng cáo in sụp đổ. Cạnh tranh khốc liệt từ mạng xã hội và trí khôn nhân tạo (AI). Bản thân The Post cũng chứng kiến lượng truy cập và thuê bao suy giảm, điều mà lãnh đạo viện dẫn để biện minh cho cắt giảm nhân sự. Nhưng, một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì. Một nửa sự thật thì nó là dối trá.
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.