Hôm nay,  

Trung Quốc U Ám

19/02/200900:00:00(Xem: 14454)

Trung Quốc U Ám

Nguyễn Xuân Nghĩa & RFA
...sau ba chục năm cải cách, Trung Quốc bắt đầu thoái trào...
Trong cảnh sa sút kinh tế toàn cầu, sau kinh tế Hoa Kỳ thì dư luận chú ý đến tình hình Nhật Bản và Trung Quốc. Quy ra toàn năm thì sản lượng ba tháng cuối năm vừa qua của Nhật đã giảm 12,7%, là đà suy thoái nặng nhất kể từ năm 1974 đến nay. Còn tình hình Trung Quốc ra sao" Phép lạ kinh tế "xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa" có còn ý nghĩa gì không" Trong tiết mục chuyên đề hàng tuần của Diễn đàn Kinh tế, Việt Long trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa về các câu hỏi trên.
Hỏi: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Trên diễn đàn này, ông thường nhận định khá bi quan về kinh tế Trung Quốc. Cách đây sáu tháng, nhân khi Thế vận hội Bắc Kinh vừa khai mạc được một tuần, ông có tiên đoán rằng - và chúng tôi trích nguyên văn - "khi nhạc lắng mây chìm và tự ái được xoa dịu, dân chúng Hoa lục mới phát giác là mình còn quá nhiều vấn đề ngổn ngang của đời sống, và sau những ngày hồ hởi lạc quan, bong bóng Thế vận sẽ bể." Bây giờ, khi kinh tế toàn cầu đang bị suy trầm, thậm chí là suy thoái, kinh tế Trung Quốc bể bóng ra sao" Câu hỏi rộng lớn hơn và liên hệ đến Việt Nam, là mô thức phát triển của Trung Quốc đã chứng tỏ sự bất toàn của nó hay chưa"
- Đến tháng Tám vừa qua, ít ai đoán ra là kinh tế toàn cầu sẽ bị suy trầm đồng loạt dù có biết là kinh tế Hoa Kỳ bị đình đọng sau sáu năm tăng trưởng đều. Khi kinh tế thế giới bị suy trầm đồng loạt thì quốc gia nào mà có nhược điểm kinh tế xã hội bên trong sẽ bị chấn động nặng nhất. Đó là quy luật chung và đang chi phối hoàn cảnh của Việt Nam, với nhiều nhược điểm mà chúng ta đã nói tới quá nhiều lần.
- Nhưng giữa khung cảnh đó tình hình Trung Quốc mới là đáng ngại nhất vì nhiều nan đề kinh tế xã hội đặc thù của xứ này. Theo dõi tình hình kinh tế Trung Quốc từ lâu, chúng ta có nói về các nan đề ấy mặc dù hầu hết dư luận Tây phương vẫn còn ca tụng phép lạ kinh tế Hoa lục và một số lãnh đạo tại Hà Nội vẫn coi đó là tấm gương sáng. Bây giờ là lúc thủy triều rút và phơi ra sự thật đen tối bên dưới. Một cách ngắn gọn, tôi trộm nghĩ là sau ba chục năm cải cách, Trung Quốc bắt đầu thoái trào và có khi sẽ bị loạn to trong những năm tới.
Hỏi: Trước khi đi vào kết luận đó, xin đề nghị ông trình bày lại những sự kiện cụ thể về tình hình kinh tế Trung Quốc để chúng ta cùng thấy ra cơ sở của những dự báo nghiêm trọng đó.
- Trước hết, ta cần biết một thực tế là sự thiếu khả tín của thống kê Trung Quốc. Con số vốn không biết nói dối nhưng những người báo cáo thì vẫn có thể dối trá được nên báo cáo kinh tế xứ này thường tô hồng sự thật, nhất là số liệu về thất nghiệp hay nhân dụng. Vậy mà Bộ An sinh Xã hội đã báo động về nguy cơ thất nghiệp tăng và Tổng cục Thống kê còn đưa ra nhiều sự kiện đáng ngại. Như trong quý bốn năm ngoái, đà tăng trưởng kinh tế Trung Quốc quy ra toàn năm chỉ còn là 6,8%. Nếu nhớ lại con số tuần tự của cả bốn quý 12 tháng thì đó là 10,6% rồi 10,1% rồi 9,0% trước khi tuột đến 6,8%, dưới mức 7%, vào ba tháng cuối năm.
- Nhìn lại như vậy thì kinh tế Trung Quốc sa sút liên tục và ngày một nặng hơn trong suốt năm ngoái, trước khi thế giới bị chấn động vì vụ khủng hoảng tài chính tại Mỹ. Chiều hướng này báo hiệu sự suy thoái bắt đầu từ lâu và sẽ còn kéo dài rất lâu vì nhiều vấn đề nội tại của họ.
Hỏi: Qua nhiều chương trình trước đây, ông có ví von rằng kinh tế Trung Quốc cũng như người đi xe đạp, xe mà chậm lăn bánh là dễ đổ, và ông còn nói tới tốc độ hiểm nghèo là 7% một năm"
- Thưa vâng, lãnh đạo Trung Quốc biết rõ như vậy và tự đặt ra một chỉ tiêu về chính trị và xã hội hơn là thuần túy kinh tế, là phải đạt mức tăng trưởng tối thiểu là 8% nếu không thì xã hội sẽ mất ổn định vì hàng năm phải đón nhận thêm hai triệu người đến tuổi lao động. Con số 7% tôi trình bày là còn có sự gia giảm vì sức chịu đựng của người dân. Nếu kinh tế Trung Quốc lại chỉ tăng trưởng có 5-6% như người ta dự đoán năm nay, động loạn sẽ bùng nổ vì số thất nghiệp sẽ không chỉ có bốn năm chục triệu người, chưa kể tới 150 triệu người họ gọi là "dân công", lang thang từ nông thôn về kiếm việc tại thành thị.
- Thời gian qua có vài ba sự kiện xã hội khác cũng đáng chú ý. Đó là Bộ Công an được lệnh cảnh giác để dẹp loạn. Còn cơ quan kiểm soát thông tin báo chí, gọi là Quốc vụ viện Tân văn Biện công chí, sẽ thay Tân hoa xã thanh lọc tin tức quốc tế để dư luận trong nước khỏi thấy sự thật. Một chuyện thứ ba còn ly kỳ hơn mà ít thấy truyền thông nói tới là nạn hàng giả.
- Ta đều biết rằng sản xuất và phân phối hàng giả là quy luật phổ biến tại Trung Quốc, kể cả tiền giả đã được ồ ạt tung ra trong dịp Tết vừa qua. Chuyện ly kỳ là Chính quyền Hoa lục, ít ra tại các tỉnh miền Nam, lại vừa có lệnh là đừng quá nghiêm khắc với nạn làm hàng giả mà họ cho là "tội nhẹ." Khi diệt trừ tham nhũng là quốc sách mà lãnh đạo lại đành nhắm mắt duy trì nạn sản xuất hàng giả - tất nhiên chỉ có thể xảy ra nhờ sự cấu kết với giới chức địa phương - ta phải đoán ra mức độ ưu tiên của luật pháp. Thà là dung túng tội nhỏ còn hơn để xảy ra loạn lớn.


Hỏi: Tuy nhiên, truyền thông quốc tế cũng nói đến việc các ngân hàng đã gia tăng cấp phát tín dụng theo lệnh nhà nước để kích thích kinh tế. Liệu Bắc Kinh có thể tung tiền giải toả những khó khăn này không"
- Lãnh đạo Trung Quốc lập kế hoạch kích thích kinh tế trị giá bốn ngàn tỷ nhân dân tệ trong đó một phần tư là từ Chính quyền Trung ương, phần còn lại là ngân sách địa phương và ngân hàng. Các ngân hàng có đáp ứng chỉ thị này để được lợi thế lãi suất cao nên tín dụng đã tăng gần 180 tỷ đô la vào tháng Giêng, so với đầu năm ngoái là tăng 50%. Tuy nhiên, được tài trợ lại không là giới tiểu doanh thương đang bị nguy cơ phá sản mà là các dự án xây dựng hạ tầng với kết quả kích thích rất chậm. Và mặt trái cùa sự bùng phát tín dụng đó là khối lượng nợ xấu sẽ còn gia tăng nữa, như nhiều giới chức cao cấp của hệ thống ngân hàng đã báo động.
Hỏi: Thống kê về ngoại thương cũng cho biết là trong tháng Giêng xuất khẩu của Trung Quốc đã giảm 17% và nhập khẩu giảm 43%, nhờ đó mà thặng dư mậu dịch vẫn tăng. Điều ấy có giải toả được những khó khăn kinh tế không, hay là ngược lại"
- Trên đại thể, xuất khẩu đóng góp phần đáng kể cho đà tăng trưởng kinh tế xứ này. Thí dụ như năm 2007 mà tăng trưởng 13% thì 3% là nhờ xuất khẩu. Nhưng từ năm ngoái, phần đóng góp này đã giảm mạnh, chưa đầy 1% cho đà tăng trưởng bình quân là 9% chẳng hạn. Đấy là điều đáng lo khi xuất khẩu còn giảm mạnh tháng trước với mức độ chưa từng thấy từ nhiều năm qua.
- Đáng lo hơn nữa là sự sút giảm nhập khẩu tới 43%. Một phần của kết quả này là hiện tượng sụt giá thương phẩm nguyên nhiên vật liệu, như Việt Nam cũng đã thấy khi bán dầu nhiều hơn mà thu tiền về lại ít hơn. Nhưng phần đáng lo nhất là sự kiện các doanh nghiệp ít nhập khẩu hơn vì yêu cầu cho sản xuất sút giảm. Con số 43% ấy báo hiệu đà sản xuất sẽ còn suy thoái nữa.
Hỏi: Tuy vậy, thế giới vẫn chú ý đến sự kiện được truyền thông nhắc tới, rằng một giới chức cao cấp của hệ thống kiểm soát ngân hàng Trung Quốc vừa phát biểu là xứ này chẳng còn cách nào hơn là mua công khố phiếu của Hoa Kỳ. Không lẽ một xứ có thể bị thoái trào như ông nói lại có tiền đầu tư vào Mỹ để giúp Hoa Kỳ ra khỏi nạn khủng hoảng tài chánh"
- Ta đang đụng vào vấn đề xương tủy của Trung Quốc. Nhờ chiến lược thắt lưng buộc bụng người dân để xuất khẩu tối đa mà bất kể lời lỗ hầu tạo ra việc làm, chính quyền thu vét được một khối dự trữ ngoại tệ trị giá gần hai ngàn tỷ Mỹ kim. Nếu có chế độ quản lý tốt, họ đã sử dụng tài sản ấy cho phát triển, tức là tăng trưởng có phẩm chất và bền vững, nhất là đầu tư vào nông thôn và các tỉnh lạc hậu bị khoá trong lục địa. Họ lại không làm như vậy.
- Bây giờ, khi đầu tư ra ngoài - một hình thái khác của tẩu tán tư bản - thì họ phải tính xem nơi nào là có lời và an toàn nhất. Trên toàn cầu, thị trường trái phiếu lớn nhất là của Nhật thì bất trắc vì Nhật mắc nợ tới 170% tổng sản lượng GDP. Kế tiếp là thị trường Mỹ, sau đó mới là bốn thị trường Euro của Âu Châu như Đức, Pháp, Ý và Tây Ban Nha. Còn lại có thị trường của đồng Anh kim, hay đồng real của Brazil, đồng won của Nam Hàn, v.v... Nếu nhìn vậy thì dù không có lời nhiều, thị trường Mỹ vẫn an toàn hơn cả, với khả năng giao hoán, tức là trao đổi, rất cao của đồng Mỹ kim so với đồng Euro, đồng Yen hay đồng bảng của Anh. Cho nên, việc Bắc Kinh đầu tư ngược vào Mỹ không phải vì muốn cứu nước Mỹ mà trước tiên là vì quyền lợi của họ.
Hỏi: Trở lại chuyện tương lai về hiện tượng ông gọi là thoái trào của Trung Quốc, tình hình rồi sẽ ra sao"
- Đây là chiều hướng lâu dài, có thể mất cả chục năm chứ không là chuyện ngắn hạn nên mình sẽ còn phải trở lại để phân tích những mâu thuẫn nội tại của xứ này. Về ngắn hạn, Trung Quốc có ưu tiên sinh tử là phải tạo ra việc làm bằng mọi giá và đã nghĩ đến chiến lược bành trướng thị trường nội địa, là điều thích hợp và cần thiết. Nhưng họ không làm nổi chuyện này vì ách tắc trong chế độ chính trị hiện hành, cụ thể là mâu thuẫn quyền lợi giữa các tỉnh.
- Trung Quốc không có thể chế liên bang và không chấp nhận dân chủ nên không thể xoay trở được như nhiều xứ khác, kể cả các nước Đông Á đã từng bị khủng hoảng kinh tế, như tại Nhật Bản, Nam Hàn, Indonesia, Thái Lan, v.v... Tại các xứ đó, chính quyền bị mất chức và lãnh đạo mới có cơ hội tìm giải pháp khác sau khi dân chúng được thấy ra sự thật và lên tiếng.
- Vì vậy, nhiều phần thì động loạn sẽ bùng nổ tại Trung Quốc, từ kinh tế dội lên xã hội và đe dọa hệ thống chính trị ở trên. Thủ tướng Ôn Gia Bảo có thể bị phê bình và hy sinh chức vụ mà vẫn không cứu vãn nổi tình hình. Đã đến lúc Việt Nam nhìn lại tấm gương Trung Quốc và đừng rập khuôn theo mô thức này nữa vì kinh tế thị trường trong khung cảnh toàn cầu hoá không dung thứ các chế độ chuyên quyền và bất lực. Không có tự do thì thị trường sẽ phản ứng cách khác và không có lá phiếu thì dân chúng chỉ còn giải pháp chính đáng là biểu tình để làm cách mạng.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.