Hôm nay,  

Trung Quốc U Ám

19/02/200900:00:00(Xem: 14442)

Trung Quốc U Ám

Nguyễn Xuân Nghĩa & RFA
...sau ba chục năm cải cách, Trung Quốc bắt đầu thoái trào...
Trong cảnh sa sút kinh tế toàn cầu, sau kinh tế Hoa Kỳ thì dư luận chú ý đến tình hình Nhật Bản và Trung Quốc. Quy ra toàn năm thì sản lượng ba tháng cuối năm vừa qua của Nhật đã giảm 12,7%, là đà suy thoái nặng nhất kể từ năm 1974 đến nay. Còn tình hình Trung Quốc ra sao" Phép lạ kinh tế "xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa" có còn ý nghĩa gì không" Trong tiết mục chuyên đề hàng tuần của Diễn đàn Kinh tế, Việt Long trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa về các câu hỏi trên.
Hỏi: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Trên diễn đàn này, ông thường nhận định khá bi quan về kinh tế Trung Quốc. Cách đây sáu tháng, nhân khi Thế vận hội Bắc Kinh vừa khai mạc được một tuần, ông có tiên đoán rằng - và chúng tôi trích nguyên văn - "khi nhạc lắng mây chìm và tự ái được xoa dịu, dân chúng Hoa lục mới phát giác là mình còn quá nhiều vấn đề ngổn ngang của đời sống, và sau những ngày hồ hởi lạc quan, bong bóng Thế vận sẽ bể." Bây giờ, khi kinh tế toàn cầu đang bị suy trầm, thậm chí là suy thoái, kinh tế Trung Quốc bể bóng ra sao" Câu hỏi rộng lớn hơn và liên hệ đến Việt Nam, là mô thức phát triển của Trung Quốc đã chứng tỏ sự bất toàn của nó hay chưa"
- Đến tháng Tám vừa qua, ít ai đoán ra là kinh tế toàn cầu sẽ bị suy trầm đồng loạt dù có biết là kinh tế Hoa Kỳ bị đình đọng sau sáu năm tăng trưởng đều. Khi kinh tế thế giới bị suy trầm đồng loạt thì quốc gia nào mà có nhược điểm kinh tế xã hội bên trong sẽ bị chấn động nặng nhất. Đó là quy luật chung và đang chi phối hoàn cảnh của Việt Nam, với nhiều nhược điểm mà chúng ta đã nói tới quá nhiều lần.
- Nhưng giữa khung cảnh đó tình hình Trung Quốc mới là đáng ngại nhất vì nhiều nan đề kinh tế xã hội đặc thù của xứ này. Theo dõi tình hình kinh tế Trung Quốc từ lâu, chúng ta có nói về các nan đề ấy mặc dù hầu hết dư luận Tây phương vẫn còn ca tụng phép lạ kinh tế Hoa lục và một số lãnh đạo tại Hà Nội vẫn coi đó là tấm gương sáng. Bây giờ là lúc thủy triều rút và phơi ra sự thật đen tối bên dưới. Một cách ngắn gọn, tôi trộm nghĩ là sau ba chục năm cải cách, Trung Quốc bắt đầu thoái trào và có khi sẽ bị loạn to trong những năm tới.
Hỏi: Trước khi đi vào kết luận đó, xin đề nghị ông trình bày lại những sự kiện cụ thể về tình hình kinh tế Trung Quốc để chúng ta cùng thấy ra cơ sở của những dự báo nghiêm trọng đó.
- Trước hết, ta cần biết một thực tế là sự thiếu khả tín của thống kê Trung Quốc. Con số vốn không biết nói dối nhưng những người báo cáo thì vẫn có thể dối trá được nên báo cáo kinh tế xứ này thường tô hồng sự thật, nhất là số liệu về thất nghiệp hay nhân dụng. Vậy mà Bộ An sinh Xã hội đã báo động về nguy cơ thất nghiệp tăng và Tổng cục Thống kê còn đưa ra nhiều sự kiện đáng ngại. Như trong quý bốn năm ngoái, đà tăng trưởng kinh tế Trung Quốc quy ra toàn năm chỉ còn là 6,8%. Nếu nhớ lại con số tuần tự của cả bốn quý 12 tháng thì đó là 10,6% rồi 10,1% rồi 9,0% trước khi tuột đến 6,8%, dưới mức 7%, vào ba tháng cuối năm.
- Nhìn lại như vậy thì kinh tế Trung Quốc sa sút liên tục và ngày một nặng hơn trong suốt năm ngoái, trước khi thế giới bị chấn động vì vụ khủng hoảng tài chính tại Mỹ. Chiều hướng này báo hiệu sự suy thoái bắt đầu từ lâu và sẽ còn kéo dài rất lâu vì nhiều vấn đề nội tại của họ.
Hỏi: Qua nhiều chương trình trước đây, ông có ví von rằng kinh tế Trung Quốc cũng như người đi xe đạp, xe mà chậm lăn bánh là dễ đổ, và ông còn nói tới tốc độ hiểm nghèo là 7% một năm"
- Thưa vâng, lãnh đạo Trung Quốc biết rõ như vậy và tự đặt ra một chỉ tiêu về chính trị và xã hội hơn là thuần túy kinh tế, là phải đạt mức tăng trưởng tối thiểu là 8% nếu không thì xã hội sẽ mất ổn định vì hàng năm phải đón nhận thêm hai triệu người đến tuổi lao động. Con số 7% tôi trình bày là còn có sự gia giảm vì sức chịu đựng của người dân. Nếu kinh tế Trung Quốc lại chỉ tăng trưởng có 5-6% như người ta dự đoán năm nay, động loạn sẽ bùng nổ vì số thất nghiệp sẽ không chỉ có bốn năm chục triệu người, chưa kể tới 150 triệu người họ gọi là "dân công", lang thang từ nông thôn về kiếm việc tại thành thị.
- Thời gian qua có vài ba sự kiện xã hội khác cũng đáng chú ý. Đó là Bộ Công an được lệnh cảnh giác để dẹp loạn. Còn cơ quan kiểm soát thông tin báo chí, gọi là Quốc vụ viện Tân văn Biện công chí, sẽ thay Tân hoa xã thanh lọc tin tức quốc tế để dư luận trong nước khỏi thấy sự thật. Một chuyện thứ ba còn ly kỳ hơn mà ít thấy truyền thông nói tới là nạn hàng giả.
- Ta đều biết rằng sản xuất và phân phối hàng giả là quy luật phổ biến tại Trung Quốc, kể cả tiền giả đã được ồ ạt tung ra trong dịp Tết vừa qua. Chuyện ly kỳ là Chính quyền Hoa lục, ít ra tại các tỉnh miền Nam, lại vừa có lệnh là đừng quá nghiêm khắc với nạn làm hàng giả mà họ cho là "tội nhẹ." Khi diệt trừ tham nhũng là quốc sách mà lãnh đạo lại đành nhắm mắt duy trì nạn sản xuất hàng giả - tất nhiên chỉ có thể xảy ra nhờ sự cấu kết với giới chức địa phương - ta phải đoán ra mức độ ưu tiên của luật pháp. Thà là dung túng tội nhỏ còn hơn để xảy ra loạn lớn.


Hỏi: Tuy nhiên, truyền thông quốc tế cũng nói đến việc các ngân hàng đã gia tăng cấp phát tín dụng theo lệnh nhà nước để kích thích kinh tế. Liệu Bắc Kinh có thể tung tiền giải toả những khó khăn này không"
- Lãnh đạo Trung Quốc lập kế hoạch kích thích kinh tế trị giá bốn ngàn tỷ nhân dân tệ trong đó một phần tư là từ Chính quyền Trung ương, phần còn lại là ngân sách địa phương và ngân hàng. Các ngân hàng có đáp ứng chỉ thị này để được lợi thế lãi suất cao nên tín dụng đã tăng gần 180 tỷ đô la vào tháng Giêng, so với đầu năm ngoái là tăng 50%. Tuy nhiên, được tài trợ lại không là giới tiểu doanh thương đang bị nguy cơ phá sản mà là các dự án xây dựng hạ tầng với kết quả kích thích rất chậm. Và mặt trái cùa sự bùng phát tín dụng đó là khối lượng nợ xấu sẽ còn gia tăng nữa, như nhiều giới chức cao cấp của hệ thống ngân hàng đã báo động.
Hỏi: Thống kê về ngoại thương cũng cho biết là trong tháng Giêng xuất khẩu của Trung Quốc đã giảm 17% và nhập khẩu giảm 43%, nhờ đó mà thặng dư mậu dịch vẫn tăng. Điều ấy có giải toả được những khó khăn kinh tế không, hay là ngược lại"
- Trên đại thể, xuất khẩu đóng góp phần đáng kể cho đà tăng trưởng kinh tế xứ này. Thí dụ như năm 2007 mà tăng trưởng 13% thì 3% là nhờ xuất khẩu. Nhưng từ năm ngoái, phần đóng góp này đã giảm mạnh, chưa đầy 1% cho đà tăng trưởng bình quân là 9% chẳng hạn. Đấy là điều đáng lo khi xuất khẩu còn giảm mạnh tháng trước với mức độ chưa từng thấy từ nhiều năm qua.
- Đáng lo hơn nữa là sự sút giảm nhập khẩu tới 43%. Một phần của kết quả này là hiện tượng sụt giá thương phẩm nguyên nhiên vật liệu, như Việt Nam cũng đã thấy khi bán dầu nhiều hơn mà thu tiền về lại ít hơn. Nhưng phần đáng lo nhất là sự kiện các doanh nghiệp ít nhập khẩu hơn vì yêu cầu cho sản xuất sút giảm. Con số 43% ấy báo hiệu đà sản xuất sẽ còn suy thoái nữa.
Hỏi: Tuy vậy, thế giới vẫn chú ý đến sự kiện được truyền thông nhắc tới, rằng một giới chức cao cấp của hệ thống kiểm soát ngân hàng Trung Quốc vừa phát biểu là xứ này chẳng còn cách nào hơn là mua công khố phiếu của Hoa Kỳ. Không lẽ một xứ có thể bị thoái trào như ông nói lại có tiền đầu tư vào Mỹ để giúp Hoa Kỳ ra khỏi nạn khủng hoảng tài chánh"
- Ta đang đụng vào vấn đề xương tủy của Trung Quốc. Nhờ chiến lược thắt lưng buộc bụng người dân để xuất khẩu tối đa mà bất kể lời lỗ hầu tạo ra việc làm, chính quyền thu vét được một khối dự trữ ngoại tệ trị giá gần hai ngàn tỷ Mỹ kim. Nếu có chế độ quản lý tốt, họ đã sử dụng tài sản ấy cho phát triển, tức là tăng trưởng có phẩm chất và bền vững, nhất là đầu tư vào nông thôn và các tỉnh lạc hậu bị khoá trong lục địa. Họ lại không làm như vậy.
- Bây giờ, khi đầu tư ra ngoài - một hình thái khác của tẩu tán tư bản - thì họ phải tính xem nơi nào là có lời và an toàn nhất. Trên toàn cầu, thị trường trái phiếu lớn nhất là của Nhật thì bất trắc vì Nhật mắc nợ tới 170% tổng sản lượng GDP. Kế tiếp là thị trường Mỹ, sau đó mới là bốn thị trường Euro của Âu Châu như Đức, Pháp, Ý và Tây Ban Nha. Còn lại có thị trường của đồng Anh kim, hay đồng real của Brazil, đồng won của Nam Hàn, v.v... Nếu nhìn vậy thì dù không có lời nhiều, thị trường Mỹ vẫn an toàn hơn cả, với khả năng giao hoán, tức là trao đổi, rất cao của đồng Mỹ kim so với đồng Euro, đồng Yen hay đồng bảng của Anh. Cho nên, việc Bắc Kinh đầu tư ngược vào Mỹ không phải vì muốn cứu nước Mỹ mà trước tiên là vì quyền lợi của họ.
Hỏi: Trở lại chuyện tương lai về hiện tượng ông gọi là thoái trào của Trung Quốc, tình hình rồi sẽ ra sao"
- Đây là chiều hướng lâu dài, có thể mất cả chục năm chứ không là chuyện ngắn hạn nên mình sẽ còn phải trở lại để phân tích những mâu thuẫn nội tại của xứ này. Về ngắn hạn, Trung Quốc có ưu tiên sinh tử là phải tạo ra việc làm bằng mọi giá và đã nghĩ đến chiến lược bành trướng thị trường nội địa, là điều thích hợp và cần thiết. Nhưng họ không làm nổi chuyện này vì ách tắc trong chế độ chính trị hiện hành, cụ thể là mâu thuẫn quyền lợi giữa các tỉnh.
- Trung Quốc không có thể chế liên bang và không chấp nhận dân chủ nên không thể xoay trở được như nhiều xứ khác, kể cả các nước Đông Á đã từng bị khủng hoảng kinh tế, như tại Nhật Bản, Nam Hàn, Indonesia, Thái Lan, v.v... Tại các xứ đó, chính quyền bị mất chức và lãnh đạo mới có cơ hội tìm giải pháp khác sau khi dân chúng được thấy ra sự thật và lên tiếng.
- Vì vậy, nhiều phần thì động loạn sẽ bùng nổ tại Trung Quốc, từ kinh tế dội lên xã hội và đe dọa hệ thống chính trị ở trên. Thủ tướng Ôn Gia Bảo có thể bị phê bình và hy sinh chức vụ mà vẫn không cứu vãn nổi tình hình. Đã đến lúc Việt Nam nhìn lại tấm gương Trung Quốc và đừng rập khuôn theo mô thức này nữa vì kinh tế thị trường trong khung cảnh toàn cầu hoá không dung thứ các chế độ chuyên quyền và bất lực. Không có tự do thì thị trường sẽ phản ứng cách khác và không có lá phiếu thì dân chúng chỉ còn giải pháp chính đáng là biểu tình để làm cách mạng.

Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.” Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại. Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.