Hôm nay,  

Phụ Nữ Và Khủng Bố

14/03/200900:00:00(Xem: 9331)

Phụ Nữ và Khủng Bố
Nguyễn Xuân Nghĩa

Các bà đã... gây ra khủng bố Hồi giáo"
Đầu tháng Ba này, chúng ta được biết kết quả một cuộc khảo sát về tỷ số nam giới tại Việt Nam. Rất lạ - mà cũng thường thôi! Nhưng nghĩ sâu hơn một chút thì có khi ta phải kết luận là chính các bà đã gây ra nạn khủng bố Hồi giáo mà không biết!
***
Tỷ số nam giới, hay "tỷ lệ giới tính", là một khái niệm được dịch từ "Sex Ratio". Xin mở ngoặc đơn để giải thích vấn đề rắc rối này.
Các bộ môn về sinh lý, nhân khẩu (hay dân số) học thường so sánh tỷ lệ của nam giới với nữ giới (hoặc... trống/mái) trong một xã hội của con người - hay súc vật. Hãy chỉ nói về con người thôi.
Khi nói "tỷ lệ giới tính là 105" - hoặc viết cho dễ hiểu hơn rằng "tỷ số nam giới là 105" - thì đấy là cách nói gọn, rằng vào một thời điểm nào đó, một xã hội nào đó có trung bình 105 người nam so với 100 người nữ. Nôm na thì đấy là số trung bình của đàn ông so với 100 người nữ. Dùng chữ "tỷ số" để dịch chữ "ratio" có thể là chính xác hơn "tỷ lệ" mà ta hiểu là "proportion".
Đi vào chi tiết thì ta biết có nhiều loại tỷ số nam giới: tỷ số khi thụ thai (primary sex ratio), tỷ số khi sinh đẻ (secondary sex ratio hay sex ratio at birth - SRB), tỷ số trong tuổi sinh đẻ (tertiary sex ratio) và tỷ số trong tuổi cao niên (quaternary, sau khi đã hết khả năng sinh đẻ)...
Bây giờ, mình đóng ngoặc đơn lại và kể lại chuyện Việt Nam.
***
Nếu tham khảo trang nhà www.plosone.org, ta có thể đọc được một báo cáo mới về tỷ số nam giới tại Việt Nam. Đại để thì tỷ số ấy có gia tăng như trong các xã hội Á Châu khác, nhưng tăng rất mạnh từ năm năm trở lại đây. Mạnh hơn các nơi khác trong khu vực.
Thông thường, người ta nghiệm thấy các xã hội có một tỷ số nam giới là 105, một ngưỡng sinh lý để duy trì khả năng sinh trưởng bình thường. Tại Việt Nam, tỷ số đó đã lên tới 108 vào năm 2005 và 112 vào năm 2006, cao hơn số trung bình một cách đáng kể và đáng ngại.
Chìm sâu dưới hiện tượng xã hội ấy là nhờ khoa học kỹ thuật hiện đại người ta đã có thể thăm thai và biết được giới tính của thai nhi là trai hay gái, rồi có một quyết định văn hoá lạc hậu - là vẫn trọng nam khinh nữ - nên phá thai nhiều hơn khi thấy bào thai là con gái. Hậu quả là tỷ số hài nhi thuộc nữ giới có giảm so với nam giới.
Hãy tưởng tượng rằng ở lúc thọ thai thì nam cũng như nữ, ta có tỷ số phân bố đều hoà của thiên nhiên hay Thượng đế. Nhưng ở lúc sinh đẻ thì người ta đã có quyết định tuyển chọn. Là loại bỏ con gái.
Nghĩa là Việt Nam đã bắt kịp nhiều xứ khác trong sự cải thiện lối sống nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhưng lại cực đoan hơn nhiều xứ khác trong sự tuyển chọn và đào thải những gì không thích. Kẻ đi sau thường quá khích hơn người đi trước và việc loại bỏ thai nhi nếu là bé gái là một dấu hiệu của sự tiến bộ ngược. Hiện tượng tiến bộ ngược ấy được thấy rõ nhất ở các tỉnh miền Bắc.
"Người Nam Việt đâu có kỳ như vậy!" câu hát đồng dao của trẻ em trong Nam sau năm 54 của thế kỷ trước - với tinh thầm châm biếm "Bắc kỳ di cư" - đang trở thành... hiện thực!
Hậu quả ra sao, đề mục kỳ này không đề cập tới. Xin một dịp khác!
Mình chỉ nói tới hiện tượng phổ biến trên thế giới, đó là khả năng hay quyền quyết định của phụ nữ. Hiện tượng ấy liên hệ tới khá nhiều vấn đề và có thể là một nguyên nhân đáng kể của... nạn khủng bố Hồi giáo.
Đáng kể mà ít ai chú ý!
***
Ít ai chú ý đến một tuyên ngôn của trùm khủng bố Osama bin Laden sau vụ tấn công Hoa Kỳ vào tháng Chín năm 2001.
Trong "Thư gửi nước Mỹ" vào năm 2002, bin Laden viết như sau: "Lũ chúng bay là một quốc gia đã khai thác phụ nữ như hàng tiêu dùng hay vật quảng cáo, để chiêu dụ giới tiêu thụ. Vì mục tiêu lợi nhuận, chúng bay dùng đàn bà để phục vụ hành khách, du khách và ngoại quốc. Rồi tự khoe là giải phóng phụ nữ."
Sau khi giết mấy ngàn người trong vụ khủng bố 9-11, bin Laden đưa ra một lý giải về hành động của mình. Nó liên hệ đến phụ nữ.
Các nhà bình luận về trận chiến giữa Hoa Kỳ và khủng bố của trào lưu Hồi giáo quá khích đã đề cập tới rất nhiều nguyên nhân về địa dư chiến lược hay ngoại giao chính trị mà lại... không chú ý đến phụ nữ, nên bỏ quên yếu tố "nữ quyền".
Khuynh hướng Hồi giáo quá khích chú ý đến điều họ gọi là giá trị truyền thống của gia đình.
Trong gia đình lý tưởng của họ, đàn bà là ở nhà chứ không ra ngoài, nếu có ra ngoài thì phải trùm đầu che mặt. Chuyện giao hợp chỉ có ở trong nhà cho mục tiêu truyền chủng. Hợp cấu ngoài hôn nhân hay bên ngoài gia đình là không chấp nhận được. Đàn bà mà ra khỏi nhà là dễ mời chào chuyện vô đạo.
Nói cho dễ hiểu: đàn bà chỉ có một chức năng là đẻ con cho chồng, cho gia đình và xã hội. Trước sau, chỉ có cái tử cung là đáng kể, và phải được kiểm soát chặt chẽ!
Hoa Kỳ là xứ tiên tiến nhất nên có tội nặng nhất. Đó là để phụ nữ đi làm, đi chơi, áo quần lại phong phanh khêu gợi và còn cổ võ cho nhiều điều trái ý Thượng đế. Thí dụ như không chồng mà chửa, hoặc có chửa rồi lại phá thai, còn ngang nhiên đòi kết hôn với một nàng đồng tính. Vì vậy, nước Mỹ bị đánh để làm gương, bị đánh vì tội đề cao nữ quyền và quảng bá cách mạng tình dục!
***
Thật ra, tự cổ chí kim, tôn giáo nào cũng có khuynh hướng kỳ thị hay áp chế phụ nữ, tùy theo mức độ mà thôi. Và tranh luận trong từng tôn giáo cũng có xảy ra, y như trong từng xã hội. Khuynh hướng bảo thủ nhất của Hồi giáo thì coi đó là chuyện sinh tử và kết tội xã hội phóng túng và ồn ào nhất là Hoa Kỳ.
Đấy là khía cạnh văn hoá của cuộc chiến khủng bố mà chúng ta ít chú ý.
Theo lý luận đó của Osama bin Laden, thì Hollywood có tội khi tung ra phim ảnh đồi trụy với phụ nữ hở hang áo quần, phóng đãng trong cách sống, hoặc khi đề cao tự do luyến ái, có con ngoài hôn nhân, hôn nhân đồng tính, v.v... Tội còn nặng hơn nữa là còn bổ nhiệm phụ nữ làm Ngoại trưởng hay Phụ tá Ngoại trưởng đặc trách thông tin tuyên truyền trong thế giới Hồi giáo (Condoleezza Rice và Karen Hughes). Như vậy, Tổng thống George W. Bush đã... cố tình khiêu khích al Qaeda. Ngày nay, Tổng thống Barack Oabma cũng thế! Các xứ khác cũng vậy, nếu cho đàn bà phong phanh áo quần bước ra khỏi nhà hoặc đưa họ lên tầng lớp lãnh đạo, làm Tổng thống, Thủ tướng hay Bộ trưởng, Tổng quản trị trên doanh trường, v.v...
Đấy là một sự điên khùng về văn hoá, nhưng là phản ứng có thật, đã gây ra cảnh tàn sát tập thể.
Nhưng trong chiều hướng đó, khủng bố Hồi giáo sẽ khủng bố... mệt nghỉ vì không cưỡng lại được một trào lưu phổ biến của xã hội con người.
Tất cả chỉ vì cái đồng hồ, và tấm lịch!
***
Chúng ta thường nghe các cụ mình nói "nữ thập tam, nam thập lục".
Hiểu cho hẹp thì đấy là tuổi có thể bước vào hôn nhân. Hiểu cho rộng thì loài người có khả năng sinh lý - và sinh sản - ở tuổi ấy, con gái 13 con trai 16. "Tuổi của nàng, tôi nhớ chỉ mười ba"... thi sĩ luôn luôn là người tinh ý nhất!
Hãy lấy cái tuổi 13 đó của phụ nữ mà tính: cứ nói cho gọn là thông thường, phụ nữ có khả năng sinh nở là từ 13 đến 43 tuổi. Ba mươi năm của một đời người mà tuổi thọ trung bình trong mấy chục thế kỷ thường chỉ ở khoảng năm chục. Nếu đếm lại cho nhanh thì ta thấy 60% thời gian sinh sống của phụ nữ là giành vào việc sinh đẻ, để gia đình và xã hội có thể tồn tại.


Nếu xét cho kỹ trong trường kỳ thì thời gian "lao động tình dục" cho mục tiêu truyền chủng và sinh tồn ấy có thể ngắn hơn nhờ khoa học kỹ thuật.
Trung bình, một người đàn bà thời... tiền công nghiệp - thế kỷ 18 về trước - thì có bảy tám con là thường. Các cụ còn có khuynh hướng.... đẻ nhiều hơn nhu cầu vì điều kiện kinh tế hay vệ sinh, dinh dưỡng không khả quan nên sinh con yểu tử là thường: đẻ tám đứa giữ được năm ba đứa là mừng. Trong ba chục năm tràn đầy sinh lực để sinh con mà phải đẻ chừng tám đứa, mà mỗi đứa cách nhau chừng năm rưỡi, thì các cụ mất 12 năm "labor intensive". Lỡ bị hư thai thì ngay sau khi hồi phục sẽ phải... đẻ bù.
Ngày nay đã khác.
***
Theo thống kê Liên hiệp quốc thì cách đây chừng bốn chục năm, tỷ lệ sinh đẻ trung bình của một phụ nữ là có 4,5 đứa con. Con số trung bình ấy còn sụt hơn nữa: trung bình của năm 2000 là 2,7 đứa. Thiên hạ tối dạ cứ dọa nhau về nạn nhân mãn, rằng loài người sinh sản nhiều quá. Sự thật đang xảy ra trái ngược một cách tất yếu: Liên hiệp quốc dự báo tỷ lệ sinh đẻ của phụ nữ vào năm 2050 là 2,05 một bà, thấp hơn con số tối thiểu để duy trì dân số như cũ là 2,1 (trung bình, các bà phải đẻ 2,1 đứa con thì dân số mới không giảm). Một thống kê khác của Liên hiệp quốc còn đưa ra con số tiên tiến hơn nhiều, mà đáng sợ hơn nhiểu: vỏn vẹn có 1,6 đứa con.
Và xã hội càng tiến bộ thì các bà càng đẻ ít hơn. Trung bình tại các xứ nhược tiểu, phụ nữ có ít con dần, từ 6,6 đưa nay xuống còn có 5,0 và sẽ chỉ còn 3.0 vào năm 2050 này.
Khi ấy, "ta sẽ làm chi đời ta"" Hãy nhìn vào tấm lịch hay đời sống của các bà.
****
Ngày xưa, phụ nữ ít được đi học. Chức năng sinh sản không cần kiến thức và càng có học thì càng... gây khó cho các ông. Ngày nay, nữ cũng như nam đều được đi học. Và đi học nhiều hơn.
Ngày xưa, 18 tuổi là coi như hoàn tất giáo dục, cấp tú tài là coi như trí thức có học và bắt đầu đi làm. Ngày nay, càng nhiều người đi học hơn, học lâu hơn và đi làm trễ hơn. Người ta lập gia đình cũng trễ hơn và sau khi lập gia đình, có con cũng chậm hơn.
Một người 25 tuổi mới bắt đầu đi làm, gần ba chục tuổi mới lập gia đình và sau đó vài năm mới có con đầu lòng. Đâm ra, quãng thời gian giành cho việc truyền chủng được thu hẹp trong một đời sống kéo dài hơn: từ 50, tuổi thọ trung bình ngày nay đã là hơn bảy chục, hoặc gần 80.
Trong khi ấy, nhu cầu tình dục chẳng những không giảm mà... coi bộ còn tăng!
Ái ân cho mục tiêu ân ái hơn là sinh đẻ đã thành bình thường và phổ biến. Người ta có thuốc ngừa thai, thậm chỉ khả năng phá thai, v.v... để chỉ phục vụ nhu cầu tình dục mà khỏi quan tâm đến chuyện sinh nở, đẻ con, hay nuôi con.
Tính trung bình cho một phụ nữ có hai con và có thể sống tới hơn tám chục tuổi thì thời gian giành cho sinh đẻ chỉ còn là hai lần chín tháng cách quãng chừng ba năm cho một đời sống tám chục. Rất ngắn, có một năm rưỡi cho cả cuộc đời tám chục, là 2% thời gian đời sống! Nếu có đẻ và nuôi con cho tới khi hai đứa con đến tuổi vào mẫu giáo thì trung bình chỉ mất tám năm, 10% thời gian của đời sống.
Thời giờ còn lại, họ làm gì, khi trí tuệ và sự hiểu biết đã gia tăng đáng kể"
Che mặt ngồi nhà hay sao"
***
Trong khuynh hướng chung như vậy của cả thế giới, chức năng của hôn nhân được mặc nhiên quan niệm lại. Ngày xưa, lấy vợ - hay lấy chồng - là để đẻ con rồi nuôi con. Ngày nay đa số thiên hạ không còn nghĩ như vậy nữa. Sự chuyển dịch dân số vì khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi quan niệm văn hoá phổ biến về vai trò phụ nữ và hôn nhân. Đấy là động lực tự nhiên dẫn tới phong trào tranh đấu cho nữ quyền, trước khi những người như Bill Clinton hay George W. Bush được đóng tã.
Phụ nữ ngày nay có thế có quan hệ tình dục sớm như phụ nữ ngày xưa - yếu tố sinh lý của con người - nhưng có thể là quan hệ tình dục ngoài hoặc sau hôn nhân. Các bà mẹ độc thân không còn làm ai giật mình nữa.
Ngày xưa, phụ nữ chỉ có quyền giao hợp sau và trong hôn nhân mà thôi. Ngày nay, phụ nữ có thể có chồng - hay không - đôi khi còn có nhiều đời chồng tiếp nối trong một quãng đời ngày càng xông xáo trong xã hội. Và chuyện ái ân khi nào hay với ai là chuyện riêng tư - quyền riêng tư - của phụ nữ.
Đâm ra phụ nữ đang đe dọa những tín điều cổ điển hay "truyền thống" của nhiều xã hội hay tôn giáo - từ Khổng giáo đến Hồi giáo!
Và làm Osama bin Laden nổi điên. Hoa Kỳ bị tấn công... oan uổng vì một trào lưu toàn cầu!
****
Phụ nữ chiếm phân nửa dân số thế giới - hơn phân nửa một chút nhờ tuổi thọ trung bình cao hơn nam giới. Trong phân nửa đó, có một thành phần ngày một đông hơn đang phá vỡ khuôn sáo cũ, chẳng phải vì muốn khiêu khích đức Thánh Khổng hay Allah. Xã hội càng tiến bộ và càng có học thì thành phần này càng đông, khác hẳn đa số phụ nữ trong các xã hội cổ điển, chưa phát triển hay còn nằm trong trạng thái nông nghiệp.
Hãy tưởng tượng đến phụ nữ tại Sàigon và Thái Bình thì ta suy ra trào lưu đó. Bây giờ, phụ nữ tại Thái Bình đã trở thành "văn minh" hơn, biết ngừa thai và thậm chí phá thai có chọn lọc, còn tiên tiến hơn phụ nữ Sàigon, thì ta hiểu ra sự chuyển động âm thầm mà mãnh liệt của tâm lý hay văn hoá con người.
Nói thêm cho gần, ngay trong xã hội Hoa Kỳ, phụ nữ bình dân tại các tiểu bang "bảo thủ" hoặc sùng đạo tại miền Nam cũng có thái độ sống gẫn gũi với truyền thống cổ điển, khác phụ nữ có học tại các tiểu bang Đông Bắc hay miền Tây nước Mỹ. Họ lập gia đình sớm hơn, có con nhiều hơn và sống "kỷ cương" hơn. Nhưng thành phần này sẽ ít dần trong tỷ lệ dân số và sẽ ảnh hưởng tới lá phiếu và chính trường Mỹ trong lâu dài.
Chuyện ấy cứ mặc nhiên xảy ra, trước sự hậm hực của bin Laden hay các đấng đàn ông vẫn luyến tiếc thời vàng son của cảnh "chồng chúa vợ tôi", khi một ông có quyền đa thê còn các bà thì bị gọt đầu bôi vôi, hay trả bè trôi sông. Hoặc bị ném đá cho tới chết!
Cho nên, ngay trong từng xã hội, ta thấy nảy sinh mâu thuẫn "mới/cũ", thể hiện thông tin, tuyên truyền, tranh luận và tranh cử. Nước Mỹ cũng thế mà thôi. Nhưng vì là một xã hội trẻ và cởi mở, nhiệt tình đổi mới của Hoa Kỳ làm nhiều bậc thức giả cổ điển hay bảo thủ lo sợ, khó chịu và họ liên tục cảnh giác về thời "mạt pháp", luông tuồng, phóng túng, sa đọa.
Ít ai trong xã hội đó lại để ý tới phản ứng hãi sợ và bất mãn của một nhóm người sống trong hang đá, những tay lý luận thuộc xu hướng Hồi giáo cực đoan. Đấy là những kẻ khủng bố và đánh nước Mỹ vì tội giải phóng phụ nữ.
Thật ra, không ai trong nước Mỹ lại cố tình phát huy nữ quyền hoặc cổ võ cho hôn nhân đồng tính chỉ vì mục tiêu... đả phá Hồi giáo - hoặc bất cứ tôn giáo nào. Nhưng một thiểu số Hồi giáo cực đoan lại suy luận theo kiểu duy tâm chủ quan ấy, mà kết tội nước Mỹ.
Trước sự thờ ơ của... các bà! Mà chính là các bà tiên tiến nhất trong trào lưu này, những tiếng nói ồn ào nhất trong đảng Dân Chủ Hoa Kỳ, cũng lại kết án nước Mỹ về tội khiêu khích Hồi giáo và gây ra phản ứng khủng bố!
Tội quá!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và công nghệ, toàn cầu hoá – vốn từng được xem là động lực chính thúc đẩy cho tăng trưởng và thịnh vượng – đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Tiến trình công nghiệp hoá và toàn cầu hoá đã đem lại nhiều thành tựu vượt bậc trong suốt thời gian dài qua, từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, đặc biệt là thông qua sự chuyên môn hoá, tự do thương mại và tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính, đại dịch toàn cầu, chiến tranh và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đã khiến mô hình toàn cầu hoá truyền thống bộc lộ nhiều tình trạng bất ổn...
Nhiều thế hệ sống ở Sài Gòn những năm của thập niên 80-90, khi con gà trống của Thương Xá Tax chưa bị bức tử, khi những hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng vẫn là nét thơ mộng của Sài Gòn, có lẽ đều quen thuộc với câu “Chương Trình Truyền Hình Đến Đây Là Hết…” Nó thường xuất hiện vào cuối các chương trình tivi tối, khi chưa phát sóng 24/24. Thời đó, mỗi ngày truyền hình chỉ phát sóng trong một số khung giờ nhất định (thường từ chiều đến khuya) nên hầu như ai cũng có tâm lý chờ đợi đến giờ ngồi trước màn ảnh nhỏ, theo dõi vài giờ giải trí. Đó cũng là chút thời gian quên đi một ngày cơ cực, bán mồ hôi cho một bữa cơm độn bo bo thời bao cấp. Nhắc nhớ chút chuyện xưa, để nói chuyện nay, đang diễn ra ở một đất nước văn minh hàng đầu, từng là niềm mơ ước của biết bao quốc gia về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.