Hôm nay,  

Phụ Nữ Và Khủng Bố

14/03/200900:00:00(Xem: 9499)

Phụ Nữ và Khủng Bố
Nguyễn Xuân Nghĩa

Các bà đã... gây ra khủng bố Hồi giáo"
Đầu tháng Ba này, chúng ta được biết kết quả một cuộc khảo sát về tỷ số nam giới tại Việt Nam. Rất lạ - mà cũng thường thôi! Nhưng nghĩ sâu hơn một chút thì có khi ta phải kết luận là chính các bà đã gây ra nạn khủng bố Hồi giáo mà không biết!
***
Tỷ số nam giới, hay "tỷ lệ giới tính", là một khái niệm được dịch từ "Sex Ratio". Xin mở ngoặc đơn để giải thích vấn đề rắc rối này.
Các bộ môn về sinh lý, nhân khẩu (hay dân số) học thường so sánh tỷ lệ của nam giới với nữ giới (hoặc... trống/mái) trong một xã hội của con người - hay súc vật. Hãy chỉ nói về con người thôi.
Khi nói "tỷ lệ giới tính là 105" - hoặc viết cho dễ hiểu hơn rằng "tỷ số nam giới là 105" - thì đấy là cách nói gọn, rằng vào một thời điểm nào đó, một xã hội nào đó có trung bình 105 người nam so với 100 người nữ. Nôm na thì đấy là số trung bình của đàn ông so với 100 người nữ. Dùng chữ "tỷ số" để dịch chữ "ratio" có thể là chính xác hơn "tỷ lệ" mà ta hiểu là "proportion".
Đi vào chi tiết thì ta biết có nhiều loại tỷ số nam giới: tỷ số khi thụ thai (primary sex ratio), tỷ số khi sinh đẻ (secondary sex ratio hay sex ratio at birth - SRB), tỷ số trong tuổi sinh đẻ (tertiary sex ratio) và tỷ số trong tuổi cao niên (quaternary, sau khi đã hết khả năng sinh đẻ)...
Bây giờ, mình đóng ngoặc đơn lại và kể lại chuyện Việt Nam.
***
Nếu tham khảo trang nhà www.plosone.org, ta có thể đọc được một báo cáo mới về tỷ số nam giới tại Việt Nam. Đại để thì tỷ số ấy có gia tăng như trong các xã hội Á Châu khác, nhưng tăng rất mạnh từ năm năm trở lại đây. Mạnh hơn các nơi khác trong khu vực.
Thông thường, người ta nghiệm thấy các xã hội có một tỷ số nam giới là 105, một ngưỡng sinh lý để duy trì khả năng sinh trưởng bình thường. Tại Việt Nam, tỷ số đó đã lên tới 108 vào năm 2005 và 112 vào năm 2006, cao hơn số trung bình một cách đáng kể và đáng ngại.
Chìm sâu dưới hiện tượng xã hội ấy là nhờ khoa học kỹ thuật hiện đại người ta đã có thể thăm thai và biết được giới tính của thai nhi là trai hay gái, rồi có một quyết định văn hoá lạc hậu - là vẫn trọng nam khinh nữ - nên phá thai nhiều hơn khi thấy bào thai là con gái. Hậu quả là tỷ số hài nhi thuộc nữ giới có giảm so với nam giới.
Hãy tưởng tượng rằng ở lúc thọ thai thì nam cũng như nữ, ta có tỷ số phân bố đều hoà của thiên nhiên hay Thượng đế. Nhưng ở lúc sinh đẻ thì người ta đã có quyết định tuyển chọn. Là loại bỏ con gái.
Nghĩa là Việt Nam đã bắt kịp nhiều xứ khác trong sự cải thiện lối sống nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhưng lại cực đoan hơn nhiều xứ khác trong sự tuyển chọn và đào thải những gì không thích. Kẻ đi sau thường quá khích hơn người đi trước và việc loại bỏ thai nhi nếu là bé gái là một dấu hiệu của sự tiến bộ ngược. Hiện tượng tiến bộ ngược ấy được thấy rõ nhất ở các tỉnh miền Bắc.
"Người Nam Việt đâu có kỳ như vậy!" câu hát đồng dao của trẻ em trong Nam sau năm 54 của thế kỷ trước - với tinh thầm châm biếm "Bắc kỳ di cư" - đang trở thành... hiện thực!
Hậu quả ra sao, đề mục kỳ này không đề cập tới. Xin một dịp khác!
Mình chỉ nói tới hiện tượng phổ biến trên thế giới, đó là khả năng hay quyền quyết định của phụ nữ. Hiện tượng ấy liên hệ tới khá nhiều vấn đề và có thể là một nguyên nhân đáng kể của... nạn khủng bố Hồi giáo.
Đáng kể mà ít ai chú ý!
***
Ít ai chú ý đến một tuyên ngôn của trùm khủng bố Osama bin Laden sau vụ tấn công Hoa Kỳ vào tháng Chín năm 2001.
Trong "Thư gửi nước Mỹ" vào năm 2002, bin Laden viết như sau: "Lũ chúng bay là một quốc gia đã khai thác phụ nữ như hàng tiêu dùng hay vật quảng cáo, để chiêu dụ giới tiêu thụ. Vì mục tiêu lợi nhuận, chúng bay dùng đàn bà để phục vụ hành khách, du khách và ngoại quốc. Rồi tự khoe là giải phóng phụ nữ."
Sau khi giết mấy ngàn người trong vụ khủng bố 9-11, bin Laden đưa ra một lý giải về hành động của mình. Nó liên hệ đến phụ nữ.
Các nhà bình luận về trận chiến giữa Hoa Kỳ và khủng bố của trào lưu Hồi giáo quá khích đã đề cập tới rất nhiều nguyên nhân về địa dư chiến lược hay ngoại giao chính trị mà lại... không chú ý đến phụ nữ, nên bỏ quên yếu tố "nữ quyền".
Khuynh hướng Hồi giáo quá khích chú ý đến điều họ gọi là giá trị truyền thống của gia đình.
Trong gia đình lý tưởng của họ, đàn bà là ở nhà chứ không ra ngoài, nếu có ra ngoài thì phải trùm đầu che mặt. Chuyện giao hợp chỉ có ở trong nhà cho mục tiêu truyền chủng. Hợp cấu ngoài hôn nhân hay bên ngoài gia đình là không chấp nhận được. Đàn bà mà ra khỏi nhà là dễ mời chào chuyện vô đạo.
Nói cho dễ hiểu: đàn bà chỉ có một chức năng là đẻ con cho chồng, cho gia đình và xã hội. Trước sau, chỉ có cái tử cung là đáng kể, và phải được kiểm soát chặt chẽ!
Hoa Kỳ là xứ tiên tiến nhất nên có tội nặng nhất. Đó là để phụ nữ đi làm, đi chơi, áo quần lại phong phanh khêu gợi và còn cổ võ cho nhiều điều trái ý Thượng đế. Thí dụ như không chồng mà chửa, hoặc có chửa rồi lại phá thai, còn ngang nhiên đòi kết hôn với một nàng đồng tính. Vì vậy, nước Mỹ bị đánh để làm gương, bị đánh vì tội đề cao nữ quyền và quảng bá cách mạng tình dục!
***
Thật ra, tự cổ chí kim, tôn giáo nào cũng có khuynh hướng kỳ thị hay áp chế phụ nữ, tùy theo mức độ mà thôi. Và tranh luận trong từng tôn giáo cũng có xảy ra, y như trong từng xã hội. Khuynh hướng bảo thủ nhất của Hồi giáo thì coi đó là chuyện sinh tử và kết tội xã hội phóng túng và ồn ào nhất là Hoa Kỳ.
Đấy là khía cạnh văn hoá của cuộc chiến khủng bố mà chúng ta ít chú ý.
Theo lý luận đó của Osama bin Laden, thì Hollywood có tội khi tung ra phim ảnh đồi trụy với phụ nữ hở hang áo quần, phóng đãng trong cách sống, hoặc khi đề cao tự do luyến ái, có con ngoài hôn nhân, hôn nhân đồng tính, v.v... Tội còn nặng hơn nữa là còn bổ nhiệm phụ nữ làm Ngoại trưởng hay Phụ tá Ngoại trưởng đặc trách thông tin tuyên truyền trong thế giới Hồi giáo (Condoleezza Rice và Karen Hughes). Như vậy, Tổng thống George W. Bush đã... cố tình khiêu khích al Qaeda. Ngày nay, Tổng thống Barack Oabma cũng thế! Các xứ khác cũng vậy, nếu cho đàn bà phong phanh áo quần bước ra khỏi nhà hoặc đưa họ lên tầng lớp lãnh đạo, làm Tổng thống, Thủ tướng hay Bộ trưởng, Tổng quản trị trên doanh trường, v.v...
Đấy là một sự điên khùng về văn hoá, nhưng là phản ứng có thật, đã gây ra cảnh tàn sát tập thể.
Nhưng trong chiều hướng đó, khủng bố Hồi giáo sẽ khủng bố... mệt nghỉ vì không cưỡng lại được một trào lưu phổ biến của xã hội con người.
Tất cả chỉ vì cái đồng hồ, và tấm lịch!
***
Chúng ta thường nghe các cụ mình nói "nữ thập tam, nam thập lục".
Hiểu cho hẹp thì đấy là tuổi có thể bước vào hôn nhân. Hiểu cho rộng thì loài người có khả năng sinh lý - và sinh sản - ở tuổi ấy, con gái 13 con trai 16. "Tuổi của nàng, tôi nhớ chỉ mười ba"... thi sĩ luôn luôn là người tinh ý nhất!
Hãy lấy cái tuổi 13 đó của phụ nữ mà tính: cứ nói cho gọn là thông thường, phụ nữ có khả năng sinh nở là từ 13 đến 43 tuổi. Ba mươi năm của một đời người mà tuổi thọ trung bình trong mấy chục thế kỷ thường chỉ ở khoảng năm chục. Nếu đếm lại cho nhanh thì ta thấy 60% thời gian sinh sống của phụ nữ là giành vào việc sinh đẻ, để gia đình và xã hội có thể tồn tại.


Nếu xét cho kỹ trong trường kỳ thì thời gian "lao động tình dục" cho mục tiêu truyền chủng và sinh tồn ấy có thể ngắn hơn nhờ khoa học kỹ thuật.
Trung bình, một người đàn bà thời... tiền công nghiệp - thế kỷ 18 về trước - thì có bảy tám con là thường. Các cụ còn có khuynh hướng.... đẻ nhiều hơn nhu cầu vì điều kiện kinh tế hay vệ sinh, dinh dưỡng không khả quan nên sinh con yểu tử là thường: đẻ tám đứa giữ được năm ba đứa là mừng. Trong ba chục năm tràn đầy sinh lực để sinh con mà phải đẻ chừng tám đứa, mà mỗi đứa cách nhau chừng năm rưỡi, thì các cụ mất 12 năm "labor intensive". Lỡ bị hư thai thì ngay sau khi hồi phục sẽ phải... đẻ bù.
Ngày nay đã khác.
***
Theo thống kê Liên hiệp quốc thì cách đây chừng bốn chục năm, tỷ lệ sinh đẻ trung bình của một phụ nữ là có 4,5 đứa con. Con số trung bình ấy còn sụt hơn nữa: trung bình của năm 2000 là 2,7 đứa. Thiên hạ tối dạ cứ dọa nhau về nạn nhân mãn, rằng loài người sinh sản nhiều quá. Sự thật đang xảy ra trái ngược một cách tất yếu: Liên hiệp quốc dự báo tỷ lệ sinh đẻ của phụ nữ vào năm 2050 là 2,05 một bà, thấp hơn con số tối thiểu để duy trì dân số như cũ là 2,1 (trung bình, các bà phải đẻ 2,1 đứa con thì dân số mới không giảm). Một thống kê khác của Liên hiệp quốc còn đưa ra con số tiên tiến hơn nhiều, mà đáng sợ hơn nhiểu: vỏn vẹn có 1,6 đứa con.
Và xã hội càng tiến bộ thì các bà càng đẻ ít hơn. Trung bình tại các xứ nhược tiểu, phụ nữ có ít con dần, từ 6,6 đưa nay xuống còn có 5,0 và sẽ chỉ còn 3.0 vào năm 2050 này.
Khi ấy, "ta sẽ làm chi đời ta"" Hãy nhìn vào tấm lịch hay đời sống của các bà.
****
Ngày xưa, phụ nữ ít được đi học. Chức năng sinh sản không cần kiến thức và càng có học thì càng... gây khó cho các ông. Ngày nay, nữ cũng như nam đều được đi học. Và đi học nhiều hơn.
Ngày xưa, 18 tuổi là coi như hoàn tất giáo dục, cấp tú tài là coi như trí thức có học và bắt đầu đi làm. Ngày nay, càng nhiều người đi học hơn, học lâu hơn và đi làm trễ hơn. Người ta lập gia đình cũng trễ hơn và sau khi lập gia đình, có con cũng chậm hơn.
Một người 25 tuổi mới bắt đầu đi làm, gần ba chục tuổi mới lập gia đình và sau đó vài năm mới có con đầu lòng. Đâm ra, quãng thời gian giành cho việc truyền chủng được thu hẹp trong một đời sống kéo dài hơn: từ 50, tuổi thọ trung bình ngày nay đã là hơn bảy chục, hoặc gần 80.
Trong khi ấy, nhu cầu tình dục chẳng những không giảm mà... coi bộ còn tăng!
Ái ân cho mục tiêu ân ái hơn là sinh đẻ đã thành bình thường và phổ biến. Người ta có thuốc ngừa thai, thậm chỉ khả năng phá thai, v.v... để chỉ phục vụ nhu cầu tình dục mà khỏi quan tâm đến chuyện sinh nở, đẻ con, hay nuôi con.
Tính trung bình cho một phụ nữ có hai con và có thể sống tới hơn tám chục tuổi thì thời gian giành cho sinh đẻ chỉ còn là hai lần chín tháng cách quãng chừng ba năm cho một đời sống tám chục. Rất ngắn, có một năm rưỡi cho cả cuộc đời tám chục, là 2% thời gian đời sống! Nếu có đẻ và nuôi con cho tới khi hai đứa con đến tuổi vào mẫu giáo thì trung bình chỉ mất tám năm, 10% thời gian của đời sống.
Thời giờ còn lại, họ làm gì, khi trí tuệ và sự hiểu biết đã gia tăng đáng kể"
Che mặt ngồi nhà hay sao"
***
Trong khuynh hướng chung như vậy của cả thế giới, chức năng của hôn nhân được mặc nhiên quan niệm lại. Ngày xưa, lấy vợ - hay lấy chồng - là để đẻ con rồi nuôi con. Ngày nay đa số thiên hạ không còn nghĩ như vậy nữa. Sự chuyển dịch dân số vì khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi quan niệm văn hoá phổ biến về vai trò phụ nữ và hôn nhân. Đấy là động lực tự nhiên dẫn tới phong trào tranh đấu cho nữ quyền, trước khi những người như Bill Clinton hay George W. Bush được đóng tã.
Phụ nữ ngày nay có thế có quan hệ tình dục sớm như phụ nữ ngày xưa - yếu tố sinh lý của con người - nhưng có thể là quan hệ tình dục ngoài hoặc sau hôn nhân. Các bà mẹ độc thân không còn làm ai giật mình nữa.
Ngày xưa, phụ nữ chỉ có quyền giao hợp sau và trong hôn nhân mà thôi. Ngày nay, phụ nữ có thể có chồng - hay không - đôi khi còn có nhiều đời chồng tiếp nối trong một quãng đời ngày càng xông xáo trong xã hội. Và chuyện ái ân khi nào hay với ai là chuyện riêng tư - quyền riêng tư - của phụ nữ.
Đâm ra phụ nữ đang đe dọa những tín điều cổ điển hay "truyền thống" của nhiều xã hội hay tôn giáo - từ Khổng giáo đến Hồi giáo!
Và làm Osama bin Laden nổi điên. Hoa Kỳ bị tấn công... oan uổng vì một trào lưu toàn cầu!
****
Phụ nữ chiếm phân nửa dân số thế giới - hơn phân nửa một chút nhờ tuổi thọ trung bình cao hơn nam giới. Trong phân nửa đó, có một thành phần ngày một đông hơn đang phá vỡ khuôn sáo cũ, chẳng phải vì muốn khiêu khích đức Thánh Khổng hay Allah. Xã hội càng tiến bộ và càng có học thì thành phần này càng đông, khác hẳn đa số phụ nữ trong các xã hội cổ điển, chưa phát triển hay còn nằm trong trạng thái nông nghiệp.
Hãy tưởng tượng đến phụ nữ tại Sàigon và Thái Bình thì ta suy ra trào lưu đó. Bây giờ, phụ nữ tại Thái Bình đã trở thành "văn minh" hơn, biết ngừa thai và thậm chí phá thai có chọn lọc, còn tiên tiến hơn phụ nữ Sàigon, thì ta hiểu ra sự chuyển động âm thầm mà mãnh liệt của tâm lý hay văn hoá con người.
Nói thêm cho gần, ngay trong xã hội Hoa Kỳ, phụ nữ bình dân tại các tiểu bang "bảo thủ" hoặc sùng đạo tại miền Nam cũng có thái độ sống gẫn gũi với truyền thống cổ điển, khác phụ nữ có học tại các tiểu bang Đông Bắc hay miền Tây nước Mỹ. Họ lập gia đình sớm hơn, có con nhiều hơn và sống "kỷ cương" hơn. Nhưng thành phần này sẽ ít dần trong tỷ lệ dân số và sẽ ảnh hưởng tới lá phiếu và chính trường Mỹ trong lâu dài.
Chuyện ấy cứ mặc nhiên xảy ra, trước sự hậm hực của bin Laden hay các đấng đàn ông vẫn luyến tiếc thời vàng son của cảnh "chồng chúa vợ tôi", khi một ông có quyền đa thê còn các bà thì bị gọt đầu bôi vôi, hay trả bè trôi sông. Hoặc bị ném đá cho tới chết!
Cho nên, ngay trong từng xã hội, ta thấy nảy sinh mâu thuẫn "mới/cũ", thể hiện thông tin, tuyên truyền, tranh luận và tranh cử. Nước Mỹ cũng thế mà thôi. Nhưng vì là một xã hội trẻ và cởi mở, nhiệt tình đổi mới của Hoa Kỳ làm nhiều bậc thức giả cổ điển hay bảo thủ lo sợ, khó chịu và họ liên tục cảnh giác về thời "mạt pháp", luông tuồng, phóng túng, sa đọa.
Ít ai trong xã hội đó lại để ý tới phản ứng hãi sợ và bất mãn của một nhóm người sống trong hang đá, những tay lý luận thuộc xu hướng Hồi giáo cực đoan. Đấy là những kẻ khủng bố và đánh nước Mỹ vì tội giải phóng phụ nữ.
Thật ra, không ai trong nước Mỹ lại cố tình phát huy nữ quyền hoặc cổ võ cho hôn nhân đồng tính chỉ vì mục tiêu... đả phá Hồi giáo - hoặc bất cứ tôn giáo nào. Nhưng một thiểu số Hồi giáo cực đoan lại suy luận theo kiểu duy tâm chủ quan ấy, mà kết tội nước Mỹ.
Trước sự thờ ơ của... các bà! Mà chính là các bà tiên tiến nhất trong trào lưu này, những tiếng nói ồn ào nhất trong đảng Dân Chủ Hoa Kỳ, cũng lại kết án nước Mỹ về tội khiêu khích Hồi giáo và gây ra phản ứng khủng bố!
Tội quá!

Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.