Hôm nay,  

Phụ Nữ Và Khủng Bố

14/03/200900:00:00(Xem: 9325)

Phụ Nữ và Khủng Bố
Nguyễn Xuân Nghĩa

Các bà đã... gây ra khủng bố Hồi giáo"
Đầu tháng Ba này, chúng ta được biết kết quả một cuộc khảo sát về tỷ số nam giới tại Việt Nam. Rất lạ - mà cũng thường thôi! Nhưng nghĩ sâu hơn một chút thì có khi ta phải kết luận là chính các bà đã gây ra nạn khủng bố Hồi giáo mà không biết!
***
Tỷ số nam giới, hay "tỷ lệ giới tính", là một khái niệm được dịch từ "Sex Ratio". Xin mở ngoặc đơn để giải thích vấn đề rắc rối này.
Các bộ môn về sinh lý, nhân khẩu (hay dân số) học thường so sánh tỷ lệ của nam giới với nữ giới (hoặc... trống/mái) trong một xã hội của con người - hay súc vật. Hãy chỉ nói về con người thôi.
Khi nói "tỷ lệ giới tính là 105" - hoặc viết cho dễ hiểu hơn rằng "tỷ số nam giới là 105" - thì đấy là cách nói gọn, rằng vào một thời điểm nào đó, một xã hội nào đó có trung bình 105 người nam so với 100 người nữ. Nôm na thì đấy là số trung bình của đàn ông so với 100 người nữ. Dùng chữ "tỷ số" để dịch chữ "ratio" có thể là chính xác hơn "tỷ lệ" mà ta hiểu là "proportion".
Đi vào chi tiết thì ta biết có nhiều loại tỷ số nam giới: tỷ số khi thụ thai (primary sex ratio), tỷ số khi sinh đẻ (secondary sex ratio hay sex ratio at birth - SRB), tỷ số trong tuổi sinh đẻ (tertiary sex ratio) và tỷ số trong tuổi cao niên (quaternary, sau khi đã hết khả năng sinh đẻ)...
Bây giờ, mình đóng ngoặc đơn lại và kể lại chuyện Việt Nam.
***
Nếu tham khảo trang nhà www.plosone.org, ta có thể đọc được một báo cáo mới về tỷ số nam giới tại Việt Nam. Đại để thì tỷ số ấy có gia tăng như trong các xã hội Á Châu khác, nhưng tăng rất mạnh từ năm năm trở lại đây. Mạnh hơn các nơi khác trong khu vực.
Thông thường, người ta nghiệm thấy các xã hội có một tỷ số nam giới là 105, một ngưỡng sinh lý để duy trì khả năng sinh trưởng bình thường. Tại Việt Nam, tỷ số đó đã lên tới 108 vào năm 2005 và 112 vào năm 2006, cao hơn số trung bình một cách đáng kể và đáng ngại.
Chìm sâu dưới hiện tượng xã hội ấy là nhờ khoa học kỹ thuật hiện đại người ta đã có thể thăm thai và biết được giới tính của thai nhi là trai hay gái, rồi có một quyết định văn hoá lạc hậu - là vẫn trọng nam khinh nữ - nên phá thai nhiều hơn khi thấy bào thai là con gái. Hậu quả là tỷ số hài nhi thuộc nữ giới có giảm so với nam giới.
Hãy tưởng tượng rằng ở lúc thọ thai thì nam cũng như nữ, ta có tỷ số phân bố đều hoà của thiên nhiên hay Thượng đế. Nhưng ở lúc sinh đẻ thì người ta đã có quyết định tuyển chọn. Là loại bỏ con gái.
Nghĩa là Việt Nam đã bắt kịp nhiều xứ khác trong sự cải thiện lối sống nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhưng lại cực đoan hơn nhiều xứ khác trong sự tuyển chọn và đào thải những gì không thích. Kẻ đi sau thường quá khích hơn người đi trước và việc loại bỏ thai nhi nếu là bé gái là một dấu hiệu của sự tiến bộ ngược. Hiện tượng tiến bộ ngược ấy được thấy rõ nhất ở các tỉnh miền Bắc.
"Người Nam Việt đâu có kỳ như vậy!" câu hát đồng dao của trẻ em trong Nam sau năm 54 của thế kỷ trước - với tinh thầm châm biếm "Bắc kỳ di cư" - đang trở thành... hiện thực!
Hậu quả ra sao, đề mục kỳ này không đề cập tới. Xin một dịp khác!
Mình chỉ nói tới hiện tượng phổ biến trên thế giới, đó là khả năng hay quyền quyết định của phụ nữ. Hiện tượng ấy liên hệ tới khá nhiều vấn đề và có thể là một nguyên nhân đáng kể của... nạn khủng bố Hồi giáo.
Đáng kể mà ít ai chú ý!
***
Ít ai chú ý đến một tuyên ngôn của trùm khủng bố Osama bin Laden sau vụ tấn công Hoa Kỳ vào tháng Chín năm 2001.
Trong "Thư gửi nước Mỹ" vào năm 2002, bin Laden viết như sau: "Lũ chúng bay là một quốc gia đã khai thác phụ nữ như hàng tiêu dùng hay vật quảng cáo, để chiêu dụ giới tiêu thụ. Vì mục tiêu lợi nhuận, chúng bay dùng đàn bà để phục vụ hành khách, du khách và ngoại quốc. Rồi tự khoe là giải phóng phụ nữ."
Sau khi giết mấy ngàn người trong vụ khủng bố 9-11, bin Laden đưa ra một lý giải về hành động của mình. Nó liên hệ đến phụ nữ.
Các nhà bình luận về trận chiến giữa Hoa Kỳ và khủng bố của trào lưu Hồi giáo quá khích đã đề cập tới rất nhiều nguyên nhân về địa dư chiến lược hay ngoại giao chính trị mà lại... không chú ý đến phụ nữ, nên bỏ quên yếu tố "nữ quyền".
Khuynh hướng Hồi giáo quá khích chú ý đến điều họ gọi là giá trị truyền thống của gia đình.
Trong gia đình lý tưởng của họ, đàn bà là ở nhà chứ không ra ngoài, nếu có ra ngoài thì phải trùm đầu che mặt. Chuyện giao hợp chỉ có ở trong nhà cho mục tiêu truyền chủng. Hợp cấu ngoài hôn nhân hay bên ngoài gia đình là không chấp nhận được. Đàn bà mà ra khỏi nhà là dễ mời chào chuyện vô đạo.
Nói cho dễ hiểu: đàn bà chỉ có một chức năng là đẻ con cho chồng, cho gia đình và xã hội. Trước sau, chỉ có cái tử cung là đáng kể, và phải được kiểm soát chặt chẽ!
Hoa Kỳ là xứ tiên tiến nhất nên có tội nặng nhất. Đó là để phụ nữ đi làm, đi chơi, áo quần lại phong phanh khêu gợi và còn cổ võ cho nhiều điều trái ý Thượng đế. Thí dụ như không chồng mà chửa, hoặc có chửa rồi lại phá thai, còn ngang nhiên đòi kết hôn với một nàng đồng tính. Vì vậy, nước Mỹ bị đánh để làm gương, bị đánh vì tội đề cao nữ quyền và quảng bá cách mạng tình dục!
***
Thật ra, tự cổ chí kim, tôn giáo nào cũng có khuynh hướng kỳ thị hay áp chế phụ nữ, tùy theo mức độ mà thôi. Và tranh luận trong từng tôn giáo cũng có xảy ra, y như trong từng xã hội. Khuynh hướng bảo thủ nhất của Hồi giáo thì coi đó là chuyện sinh tử và kết tội xã hội phóng túng và ồn ào nhất là Hoa Kỳ.
Đấy là khía cạnh văn hoá của cuộc chiến khủng bố mà chúng ta ít chú ý.
Theo lý luận đó của Osama bin Laden, thì Hollywood có tội khi tung ra phim ảnh đồi trụy với phụ nữ hở hang áo quần, phóng đãng trong cách sống, hoặc khi đề cao tự do luyến ái, có con ngoài hôn nhân, hôn nhân đồng tính, v.v... Tội còn nặng hơn nữa là còn bổ nhiệm phụ nữ làm Ngoại trưởng hay Phụ tá Ngoại trưởng đặc trách thông tin tuyên truyền trong thế giới Hồi giáo (Condoleezza Rice và Karen Hughes). Như vậy, Tổng thống George W. Bush đã... cố tình khiêu khích al Qaeda. Ngày nay, Tổng thống Barack Oabma cũng thế! Các xứ khác cũng vậy, nếu cho đàn bà phong phanh áo quần bước ra khỏi nhà hoặc đưa họ lên tầng lớp lãnh đạo, làm Tổng thống, Thủ tướng hay Bộ trưởng, Tổng quản trị trên doanh trường, v.v...
Đấy là một sự điên khùng về văn hoá, nhưng là phản ứng có thật, đã gây ra cảnh tàn sát tập thể.
Nhưng trong chiều hướng đó, khủng bố Hồi giáo sẽ khủng bố... mệt nghỉ vì không cưỡng lại được một trào lưu phổ biến của xã hội con người.
Tất cả chỉ vì cái đồng hồ, và tấm lịch!
***
Chúng ta thường nghe các cụ mình nói "nữ thập tam, nam thập lục".
Hiểu cho hẹp thì đấy là tuổi có thể bước vào hôn nhân. Hiểu cho rộng thì loài người có khả năng sinh lý - và sinh sản - ở tuổi ấy, con gái 13 con trai 16. "Tuổi của nàng, tôi nhớ chỉ mười ba"... thi sĩ luôn luôn là người tinh ý nhất!
Hãy lấy cái tuổi 13 đó của phụ nữ mà tính: cứ nói cho gọn là thông thường, phụ nữ có khả năng sinh nở là từ 13 đến 43 tuổi. Ba mươi năm của một đời người mà tuổi thọ trung bình trong mấy chục thế kỷ thường chỉ ở khoảng năm chục. Nếu đếm lại cho nhanh thì ta thấy 60% thời gian sinh sống của phụ nữ là giành vào việc sinh đẻ, để gia đình và xã hội có thể tồn tại.


Nếu xét cho kỹ trong trường kỳ thì thời gian "lao động tình dục" cho mục tiêu truyền chủng và sinh tồn ấy có thể ngắn hơn nhờ khoa học kỹ thuật.
Trung bình, một người đàn bà thời... tiền công nghiệp - thế kỷ 18 về trước - thì có bảy tám con là thường. Các cụ còn có khuynh hướng.... đẻ nhiều hơn nhu cầu vì điều kiện kinh tế hay vệ sinh, dinh dưỡng không khả quan nên sinh con yểu tử là thường: đẻ tám đứa giữ được năm ba đứa là mừng. Trong ba chục năm tràn đầy sinh lực để sinh con mà phải đẻ chừng tám đứa, mà mỗi đứa cách nhau chừng năm rưỡi, thì các cụ mất 12 năm "labor intensive". Lỡ bị hư thai thì ngay sau khi hồi phục sẽ phải... đẻ bù.
Ngày nay đã khác.
***
Theo thống kê Liên hiệp quốc thì cách đây chừng bốn chục năm, tỷ lệ sinh đẻ trung bình của một phụ nữ là có 4,5 đứa con. Con số trung bình ấy còn sụt hơn nữa: trung bình của năm 2000 là 2,7 đứa. Thiên hạ tối dạ cứ dọa nhau về nạn nhân mãn, rằng loài người sinh sản nhiều quá. Sự thật đang xảy ra trái ngược một cách tất yếu: Liên hiệp quốc dự báo tỷ lệ sinh đẻ của phụ nữ vào năm 2050 là 2,05 một bà, thấp hơn con số tối thiểu để duy trì dân số như cũ là 2,1 (trung bình, các bà phải đẻ 2,1 đứa con thì dân số mới không giảm). Một thống kê khác của Liên hiệp quốc còn đưa ra con số tiên tiến hơn nhiều, mà đáng sợ hơn nhiểu: vỏn vẹn có 1,6 đứa con.
Và xã hội càng tiến bộ thì các bà càng đẻ ít hơn. Trung bình tại các xứ nhược tiểu, phụ nữ có ít con dần, từ 6,6 đưa nay xuống còn có 5,0 và sẽ chỉ còn 3.0 vào năm 2050 này.
Khi ấy, "ta sẽ làm chi đời ta"" Hãy nhìn vào tấm lịch hay đời sống của các bà.
****
Ngày xưa, phụ nữ ít được đi học. Chức năng sinh sản không cần kiến thức và càng có học thì càng... gây khó cho các ông. Ngày nay, nữ cũng như nam đều được đi học. Và đi học nhiều hơn.
Ngày xưa, 18 tuổi là coi như hoàn tất giáo dục, cấp tú tài là coi như trí thức có học và bắt đầu đi làm. Ngày nay, càng nhiều người đi học hơn, học lâu hơn và đi làm trễ hơn. Người ta lập gia đình cũng trễ hơn và sau khi lập gia đình, có con cũng chậm hơn.
Một người 25 tuổi mới bắt đầu đi làm, gần ba chục tuổi mới lập gia đình và sau đó vài năm mới có con đầu lòng. Đâm ra, quãng thời gian giành cho việc truyền chủng được thu hẹp trong một đời sống kéo dài hơn: từ 50, tuổi thọ trung bình ngày nay đã là hơn bảy chục, hoặc gần 80.
Trong khi ấy, nhu cầu tình dục chẳng những không giảm mà... coi bộ còn tăng!
Ái ân cho mục tiêu ân ái hơn là sinh đẻ đã thành bình thường và phổ biến. Người ta có thuốc ngừa thai, thậm chỉ khả năng phá thai, v.v... để chỉ phục vụ nhu cầu tình dục mà khỏi quan tâm đến chuyện sinh nở, đẻ con, hay nuôi con.
Tính trung bình cho một phụ nữ có hai con và có thể sống tới hơn tám chục tuổi thì thời gian giành cho sinh đẻ chỉ còn là hai lần chín tháng cách quãng chừng ba năm cho một đời sống tám chục. Rất ngắn, có một năm rưỡi cho cả cuộc đời tám chục, là 2% thời gian đời sống! Nếu có đẻ và nuôi con cho tới khi hai đứa con đến tuổi vào mẫu giáo thì trung bình chỉ mất tám năm, 10% thời gian của đời sống.
Thời giờ còn lại, họ làm gì, khi trí tuệ và sự hiểu biết đã gia tăng đáng kể"
Che mặt ngồi nhà hay sao"
***
Trong khuynh hướng chung như vậy của cả thế giới, chức năng của hôn nhân được mặc nhiên quan niệm lại. Ngày xưa, lấy vợ - hay lấy chồng - là để đẻ con rồi nuôi con. Ngày nay đa số thiên hạ không còn nghĩ như vậy nữa. Sự chuyển dịch dân số vì khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi quan niệm văn hoá phổ biến về vai trò phụ nữ và hôn nhân. Đấy là động lực tự nhiên dẫn tới phong trào tranh đấu cho nữ quyền, trước khi những người như Bill Clinton hay George W. Bush được đóng tã.
Phụ nữ ngày nay có thế có quan hệ tình dục sớm như phụ nữ ngày xưa - yếu tố sinh lý của con người - nhưng có thể là quan hệ tình dục ngoài hoặc sau hôn nhân. Các bà mẹ độc thân không còn làm ai giật mình nữa.
Ngày xưa, phụ nữ chỉ có quyền giao hợp sau và trong hôn nhân mà thôi. Ngày nay, phụ nữ có thể có chồng - hay không - đôi khi còn có nhiều đời chồng tiếp nối trong một quãng đời ngày càng xông xáo trong xã hội. Và chuyện ái ân khi nào hay với ai là chuyện riêng tư - quyền riêng tư - của phụ nữ.
Đâm ra phụ nữ đang đe dọa những tín điều cổ điển hay "truyền thống" của nhiều xã hội hay tôn giáo - từ Khổng giáo đến Hồi giáo!
Và làm Osama bin Laden nổi điên. Hoa Kỳ bị tấn công... oan uổng vì một trào lưu toàn cầu!
****
Phụ nữ chiếm phân nửa dân số thế giới - hơn phân nửa một chút nhờ tuổi thọ trung bình cao hơn nam giới. Trong phân nửa đó, có một thành phần ngày một đông hơn đang phá vỡ khuôn sáo cũ, chẳng phải vì muốn khiêu khích đức Thánh Khổng hay Allah. Xã hội càng tiến bộ và càng có học thì thành phần này càng đông, khác hẳn đa số phụ nữ trong các xã hội cổ điển, chưa phát triển hay còn nằm trong trạng thái nông nghiệp.
Hãy tưởng tượng đến phụ nữ tại Sàigon và Thái Bình thì ta suy ra trào lưu đó. Bây giờ, phụ nữ tại Thái Bình đã trở thành "văn minh" hơn, biết ngừa thai và thậm chí phá thai có chọn lọc, còn tiên tiến hơn phụ nữ Sàigon, thì ta hiểu ra sự chuyển động âm thầm mà mãnh liệt của tâm lý hay văn hoá con người.
Nói thêm cho gần, ngay trong xã hội Hoa Kỳ, phụ nữ bình dân tại các tiểu bang "bảo thủ" hoặc sùng đạo tại miền Nam cũng có thái độ sống gẫn gũi với truyền thống cổ điển, khác phụ nữ có học tại các tiểu bang Đông Bắc hay miền Tây nước Mỹ. Họ lập gia đình sớm hơn, có con nhiều hơn và sống "kỷ cương" hơn. Nhưng thành phần này sẽ ít dần trong tỷ lệ dân số và sẽ ảnh hưởng tới lá phiếu và chính trường Mỹ trong lâu dài.
Chuyện ấy cứ mặc nhiên xảy ra, trước sự hậm hực của bin Laden hay các đấng đàn ông vẫn luyến tiếc thời vàng son của cảnh "chồng chúa vợ tôi", khi một ông có quyền đa thê còn các bà thì bị gọt đầu bôi vôi, hay trả bè trôi sông. Hoặc bị ném đá cho tới chết!
Cho nên, ngay trong từng xã hội, ta thấy nảy sinh mâu thuẫn "mới/cũ", thể hiện thông tin, tuyên truyền, tranh luận và tranh cử. Nước Mỹ cũng thế mà thôi. Nhưng vì là một xã hội trẻ và cởi mở, nhiệt tình đổi mới của Hoa Kỳ làm nhiều bậc thức giả cổ điển hay bảo thủ lo sợ, khó chịu và họ liên tục cảnh giác về thời "mạt pháp", luông tuồng, phóng túng, sa đọa.
Ít ai trong xã hội đó lại để ý tới phản ứng hãi sợ và bất mãn của một nhóm người sống trong hang đá, những tay lý luận thuộc xu hướng Hồi giáo cực đoan. Đấy là những kẻ khủng bố và đánh nước Mỹ vì tội giải phóng phụ nữ.
Thật ra, không ai trong nước Mỹ lại cố tình phát huy nữ quyền hoặc cổ võ cho hôn nhân đồng tính chỉ vì mục tiêu... đả phá Hồi giáo - hoặc bất cứ tôn giáo nào. Nhưng một thiểu số Hồi giáo cực đoan lại suy luận theo kiểu duy tâm chủ quan ấy, mà kết tội nước Mỹ.
Trước sự thờ ơ của... các bà! Mà chính là các bà tiên tiến nhất trong trào lưu này, những tiếng nói ồn ào nhất trong đảng Dân Chủ Hoa Kỳ, cũng lại kết án nước Mỹ về tội khiêu khích Hồi giáo và gây ra phản ứng khủng bố!
Tội quá!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong những thời khắc nguy kịch nhất, thảm họa nhất, tổng thống Hoa Kỳ là người duy nhất có tiếng nói quyền lực với toàn dân để đưa họ vượt qua nghịch cảnh. Tổng thống sẽ trấn an dân bằng luật pháp, bằng ý chí kiên cường, bằng bản lĩnh lãnh đạo, bao dung nhưng dứt khoát. Thậm chí, có khi phải bằng mệnh lệnh sắc bén để khống chế những tư tưởng bốc đồng sẽ gây hỗn loạn. Mấy trăm năm lập quốc của Mỹ đã chứng minh rất nhiều lần như thế.
(Sydney – 14 tháng 12, 2025) - Hàng trăm người có mặt tại bãi biển Bondi, Sydney, để dự lễ Hanukkah đã chứng kiến một trong những vụ khủng bố đẫm máu nhất kể từ sau thảm sát Port Arthur năm 1996. Vào lúc 6 giờ 45 chiều Chủ Nhật, hai tay súng mặc đồ đen xuất hiện trên cây cầu bộ hành nối Campbell Parade với Bondi Pavilion, bắt đầu nổ súng xuống đám đông đang dự lễ. Hai kẻ này dùng súng trường, bắn liên tục trong khoảng 10 phút, khiến hàng trăm người hoảng loạn bỏ chạy, nhiều người ngã gục ngay trên bãi cát và công viên ven biển. Ít nhất 12 người thiệt mạng, trong đó có 9 nạn nhân thường dân, 1 cảnh sát và 2 tay súng (một bị bắn chết tại chỗ, một bị bắt nhưng sau đó tử vong do vết thương). Ngoài ra, có ít nhất 38 người bị thương, trong đó có 2 cảnh sát và nhiều nạn nhân ở tình trạng nguy kịch.
Năm 2024, con người trung bình dành hai giờ rưỡi mỗi ngày trên mạng xã hội. Nhân lên, đó là hơn một tháng mỗi năm nhìn vào màn hình, lướt ‘feed’ (dòng tin), đợi ‘notification’ (báo tin), đếm ‘like’ (lược thích). Bạn dành nhiều thới giờ cho Facebook, Instagram, TikTok. Và câu hỏi không phải "có nhiều không?", mà là "chúng ta nhận được gì?" Câu trả lời, theo một nhóm triết gia, nhà tâm lý học, nhà xã hội học đương đại, không phải kết nối, không phải hạnh phúc, không phải sự thật. Mà là cô đơn có tổ chức, lo âu có hệ thống, và sự thật bị thao túng. Mạng xã hội—đặc biệt Facebook, nền tảng với ba tỷ người dùng, lớn hơn bất kỳ quốc gia nào trên hành tinh—không phải công cụ trung lập. Nó là kiến trúc quyền lực đang định hình lại não bộ, xã hội, và chính trị theo cách mà chúng ta chưa kịp nhận ra. Và đây là điều đáng sợ nhất: chúng ta không bị ép. Chúng ta tự nguyện. Chúng ta mở Facebook vì muốn "kết nối." Nhưng sau ba mươi phút lướt, chúng ta cảm thấy trống rỗng hơn. Chúng ta vào để "cập nhật
Trong sân khấu chính trị đồ sộ từ cổ chí kim của nước Mỹ, hiếm có nhân vật nào diễn xuất giỏi như Donald J. Trump. Những cuộc vận động tranh cử từ hơn mười năm trước của Trump vốn đã tràn ngập những lời hứa, giáo huấn, sự tức giận vì “nước Mỹ quá tệ hại”, những lời phỉ báng đối thủ. Tất cả hòa hợp thành những bản giao hưởng ký tên DJT. Mỗi lần Trump bước lên sân khấu, điệu nhảy YCMA vô tư, không theo chuẩn mực, thay cho tiếng kèn hiệu triệu “hoàng đế giá lâm.”
Năm 2025 được xem là giai đoạn khó khăn cho ngành khoa học khi ngân sách nghiên cứu bị thu hẹp và nhiều nhóm chuyên môn phải giải thể. Tuy vậy, những thành tựu y học nổi bật lại chứng minh rằng sức sáng tạo của con người chưa bao giờ dừng lại. Hàng loạt phát hiện mới đã mở rộng hiểu biết của chúng ta về sức khỏe, đồng thời thay đổi cách chăm sóc bệnh nhân hiện nay. Dưới đây là chín trong số những khám phá ấn tượng nhất trong năm 2025.
Năm 2025 khởi đầu bằng nỗi lo dấy lên từ các sàn tài chính quốc tế. Tháng Tư, Tổng thống Donald Trump khơi lại cuộc chiến thương mại, khiến nhiều người e sợ suy thái toàn cầu. Thế nhưng, sau mười hai tháng, kinh tế thế giới vẫn đứng vững: tổng sản lượng tăng khoảng 3%, bằng năm trước; thất nghiệp thấp và chứng khoán nhiều nơi tiếp tục lên giá. Chỉ riêng lạm phát vẫn còn là bóng mây bao phủ, vì phần lớn các nước trong khối công nghiệp OECD chưa đưa được vật giá về mức ổn định như mong muốn.
Sự phát triển nhanh chóng của Artificial Intelligence/ AI và robot đặt ra nhiều thách thức về đạo đức xã hội và cá nhân, đặc biệt là trong việc thu thập dữ liệu cá nhân làm ảnh hưởng đến các quyết định quan trọng như tuyển dụng, trị liệu và xét xử. Mặc dù AI có thể mô phỏng cảm xúc, nhưng không có ý thức thực sự, dẫn đến nguy cơ làm cho con người phụ thuộc vào AI và robot và suy giảm kỹ năng giao tiếp xã hội...
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên số, nơi mọi thứ đều được đo bằng thuật toán: nhịp tim, bước chân, năng suất, thậm chí cả tình yêu. Thuật toán không có tình cảm, nhưng khôi hài vì chúng ta điều khiển thuật toán bằng cảm xúc.Máy móc có thể xử lý hàng tỷ dữ liệu mỗi giây, còn con người — chỉ cần một tưởng tượng — mọi thứ biến hoá. Cảm xúc lan truyền nhanh hơn tin tức, giận dữ được tối ưu hóa bằng công nghệ, và hạnh phúc được đong đếm bằng lượt thả tim. Chúng ta tưởng mình tiến hóa thành sinh vật lý trí, nhưng thật ra chỉ là sinh vật cảm xúc có Wi-Fi. Trong khi AI đang thao túng mọi lãnh vực, chúng ta loay hoay với cảm xúc, thao túng mọi ý nghĩ, hành vi.
Năm 2025 sắp khép lại, và theo thông lệ hàng năm, các nhà từ điển trên thế giới lại đi tìm từ ngữ để chọn đặt tên cho cái mớ hỗn độn mà nhân loại vừa bơi qua trong năm. Oxford chọn cụm từ “mồi giận dữ” (rage bait). Theo các nhà ngôn ngữ học của Oxford, đây là cách tiếng Anh vẫn thường vận hành: hai chữ quen thuộc — “giận dữ” và “mồi nhử” — ghép lại trong bối cảnh trực tuyến để tạo nên một ý niệm mới: thứ nội dung bày ra để cố tình khêu gợi bản tính nóng nảy của người xem, người đọc, khiến thiên hạ phải lao vào vòng tranh cãi chỉ để cuối cùng bấm thêm một cú “tức” nữa.
Tài năng như ông vua tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung cũng chỉ có thể tạo ra những vị tướng phản diện nhưng có võ công cao cường và chí lớn, chứ không thể giả mạo làm tướng. Mộ Dung Phục, tức Nam Yến Quốc, là một trong nhiều ví dụ. Mộ Dung Phục là kẻ háo danh, không từ thủ đoạn để đạt mục đích. Hắn sẵn sàng bỏ quên nhân nghĩa, thậm chí phản bội anh em, bạn bè, để leo lên nấc thang quyền lực, khôi phục nước Yên. Nhưng vẫn là một kẻ võ công cái thế. Đối thủ của Mộ Dung Phục là anh hùng chính nghĩa Kiều Phong. Bởi vậy, mới có câu "Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung" để chỉ hai cao thủ võ lâm mạnh nhất thời bấy giờ. Vậy mà nước Mỹ hôm nay lại có bộ phim kỳ quái về một kẻ giả danh tướng, khoác lên mình chiếc áo quyền lực để công kích một anh hùng, một đại tá Hải Quân, một phi hành gia của NASA, một người yêu nước đích thực.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.