Hôm nay,  

Quan nhất thời - Dân vạn đại

09/04/201100:00:00(Xem: 10479)

Quan nhất thời - Dân vạn đại

Đoàn Thanh Liêm

Vào giữa tháng Ba 2011, trong dịp tham dự Đại hội Thường niên của tổ chức Ân xá Quốc tế Hoa kỳ (Amnesty International USA) tại thành phố San Francisco, California, tôi được nghe một diễn giả phát biểu mà thật lấy làm tâm đắc. Ông nói đại để như sau : "Các bạn thấy đấy : Họ đến, rồi tất cả họ lại đi thôi, không hề có một biệt lệ nào cả ! (They come, then they go, all of them - not any exception whatever !) Bất kể đó là vị Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, là Tổng thống, Thủ tướng, Bộ trưởng, Nghị sĩ, Dân biểu v.v…Hết thảy họ đến, rồi họ cũng phải ra đi mà thôi. Chỉ có khối đông đảo quần chúng nhân dân chúng ta là còn tồn tại mãi mà thôi. Xin các bạn nhớ cho: Đó là một quy luật muôn đời của xã hội loài người chúng ta vậy đó "

Cử tọa - gồm phần đông là giới trẻ cỡ trên dưới 30 tuổi - đã tán thưởng và vỗ tay nồng nhiệt. Cũng xin ghi thêm là hôm đó diễn giả gợi ra cái ngọn lửa bừng cháy trong cuộc nổi dậy của người dân ở Tunisia, ở Ai cập, mà được gọi là "cuộc Cách mạng Hoa Lài" nhằm xóa bỏ hẳn được chế độ độc tài tại hai quốc gia này ở khu vực Bắc Phi châu và Trung Đông vào đầu năm 2011.

Lời phát biểu chắc nịch đó đã làm cho tôi nhớ lại cái điều mà cha ông chúng ta xưa nay vẫn nói : "Quan nhất thời - Dân vạn đại". Và người viết xin trưng dẫn câu đó để làm nhan đề cho bài viết này. Cũng với dòng liên tưởng đó, tôi xin ghi thêm câu tục ngữ thông dụng, hay được bà con nói lên, cốt ý để nhắc nhở cảnh giác đối với giới chức có thế có quyền phải liệu mà cư xử làm sao cho có nhân có đức, đừng có làm điều chi xấu xa tồi bại, đến nỗi khiến cho người đời sau phải trách cứ chê bai mãi mãi. Câu tục ngữ đó như sau :

"Trăm năm bia đá thì mòn - Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ"!

Cũng về đặc tính của tổ chức sinh họat trong xã hội con người như thế, mà từ xưa các nho sĩ nước ta thường vẫn hay nhắc lại câu nói của thầy Mạnh Tử là một bậc thức giả nổi danh của Trung quốc, câu này được ghi ra bằng tiếng Hán Việt như sau : " Dân vi quý - Xã tắc thứ chi - Quân vi khinh". Tức là xác nhận địa vị cao quý của người dân là quan trọng trên hết. Sau đó, thì mới đến tổ chức lề lối phép tắc của xã hội. Còn bậc vua quan, giới chức chính quyền, thì phải xem nhẹ thôi ( chữ khinh ở đây có nghĩa là nhẹ, trái nghĩa với chữ trọng = nặng).

Liên hệ đến hòan cảnh thực tế ở nước Việt nam chúng ta từ trên 60 năm nay, kể từ ngày người cộng sản lên nắm được chính quyền trong tay, thì rõ ràng là họ đã thiết lập nên một chế độ "độc tài tòan trị" về mọi lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, bằng đủ mọi thủ đoạn thâm độc để kềm kẹp, đàn áp tàn bạo đối với người dân chúng ta. Họ du nhập từ mãi Liên Xô, Trung quốc để đưa vào nước ta cái chủ trương bạo lực sắt máu gọi là "nền chuyên chính vô sản" (the proletarian dictatorship) với phương thức đấu tranh hận thù giai cấp, với khẩu hiệu "trí phú địa hào - đào tận gốc - trốc tận rễ". Họ khôn khéo lừa gạt người dân bằng những lời hứa hẹn là sẽ xây dựng một xã hội lý tưởng tốt đẹp, trong đó mọi người yêu thương đùm bọc lẫn nhau, không còn tệ nạn người bóc lột người như xưa nữa v.v…Vào lúc này, thì mọi người dân đều thấy rõ tất cả những điều hứa hẹn đó chỉ là một cái thứ bánh vẽ, không hề có thực trong nước ta sau trên 60 năm dưới quyền cai trị của đảng cộng sản. Ta khỏi cần dài dòng về chuyện này nữa.

I - Lời cảnh báo gửi đến cho giới lãnh đạo cộng sản.

Sau thời gian dài bị mê hoặc ru ngủ bởi những lời lẽ đường mật xảo trá của lối tuyền truyền cộng sản, người dân Việt nam đã bắt đầu tỉnh ngộ nhận ra được bản chất dối trá tàn ác của chế độ độc tài ngoan cố này. Và từ đó mà đang cùng nhau " nối vòng tay lớn" để tự giải thóat khỏi cái gông cùm ác nghiệt đó.

Như vậy, thì vấn đề cấp thiết hiện nay là nhân dân chúng ta phải quyết tâm dành lại cho bằng được cái quyền "tự làm chủ trên đất nước của mình", để mà cùng nhau bắt tay vào công cuộc phục hồi lại cái nền nếp sinh họat nhân ái, hòa nhã trong xã hội như cha ông chúng ta đã xây dựng được từ bao nhiêu thế hệ trước đây, trong suốt thời kỳ tự chủ lâu dài của lịch sử dân tộc.

Để bắt đầu, ta cần xác tín rằng cái chế độ tàn bạo bất nhân, tham nhũng thối nát do nhà cầm quyền cộng sản dựng lên, thì dứt khóat là phải bị lọai trừ tiêu hủy đi thôi. Và giới lãnh đạo đứng đầu cái chế độ ác đức vô luân đó sẽ phải chịu trách nhiệm trước dân tộc về những hành vi tội phạm man rợ khủng khiếp do họ đã ngoan cố gây ra từ nhiều năm qua, điển hình như vụ thảm sát hàng mấy ngàn người dân vô tội hồi Tết Mậu Thân năm 1968 tại Huế.

Không thể nào mà giới lãnh đạo chủ chốt này lại thóat khỏi được cái trách nhiệm hình sự do nguyên tắc "thời hiệu tố quyền bị tiêu diệt" (statutes of limitation) như được quy định trong các bộ luật hình sự đối với các tội phạm thông thường. Lý do là các tội phạm do các chế độ độc tài gây ra đã quá nặng nề trầm trọng, nên không thể nào mà để cho xảy ra trường hợp "chìm xuồng", khiến cho các thủ phạm chính yếu cứ nhởn nhơ sống ngòai vòng cương tỏa như người vô tội, vô trách nhiệm mãi được.

Điều 29 của Quy chế Rome (Rome Statute) của Tòa Án Hình sư Quốc tế đã quy định rằng : "Đối với những tội phạm diệt chủng, chống nhân lọai, tội phạm chiến tranh, thì đều không được áp dụng nguyên tắc thời hiệu tố quyền bị tiêu diệt". Như vậy, dứt khóat là những kẻ ác ôn tàn bạo hiện nay trên đất nước ta sẽ không thể nào thóat khỏi trách nhiệm hình sự trước pháp luật, cũng như trước công luận của xã hội sau này được.

Đây chính là lời cảnh giác nghiêm trọng mà tập thể quần chúng nhân dân chúng ta công khai gửi đến cho tòan thể giới lãnh đạo cộng sản hiện nay ở Việt nam vậy. Đó cũng là cơ hội để nhân dân thể hiện quyền làm chủ tối thượng của mình trên quê hương đất nước chúng ta vậy (people's sovereign power).

II - Sự bền vững của Xã hội Dân sự.

Trở lại với câu chuyện "Dân vạn đại", ta có thể nói rằng cái khối quần chúng nhân dân đông đảo này chính là cốt lõi vững chắc của Xã hội Dân sự, tức là khu vực nằm ngòai chánh quyền, và khác biệt với khu vực kinh doanh kỹ nghệ thương mại.

Lấy trường hợp của Tổng thống Jimmy Carter, khi ông rời bỏ Tòa Bạch ốc để về nghỉ hưu vào đầu năm 1981, thì ông trở về giữ cương vị một người công dân bình thường như tuyệt đại đa số người dân Mỹ khác. Và từ trên 30 năm nay, Jimmy Carter đã được, không những là dân chúng Mỹ, mà còn cả tòan thể thế giới ca ngợi mến phục vì những đóng góp lớn lao trong lãnh vực nhân đạo từ thiện, và nhất là trong công cuộc hòa giải tranh chấp và xây dựng hòa bình trên thế giới. Rõ rệt ông là một nhân vật kiệt xuất, một tiêu biểu sáng ngời của Xã hội Dân sự tại nước Mỹ và trên tòan cầu nữa. Sự nghiệp sau khi về hưu của Jimmy Carter lại còn chói sáng gấp bao nhiêu lần so với thành tích trong nhiệm kỳ ông giữ chức vụ lãnh đạo cường quốc Hoa kỳ hồi cuối thập niên 1970 nữa.

Cũng vậy, các vị lãnh đạo quốc gia sau khi về hưu như Lech Walesa ở Ba lan, Vaclac Havel của Tiệp khắc, Nelson Mandela của Nam Phi, Bill Clinton của Mỹ, Tony Blair của Anh quốc v.v…, thì hiện đã có những công trình văn hóa xã hội thật đáng khen ngợi. Họ đều tiếp tục dấn thân phục vụ dân tộc và đất nước của mình với sự hăng say và hiệu quả rất cao trong phạm vi Xã hội Dân sự, có khi còn xuất sắc hơn là khi còn là người lãnh đạo chánh quyền nữa. Người viết sẽ sưu tầm, tìm hiểu thêm chi tiết về sinh họat của các vị cựu nguyên thủ quốc gia này và sẽ xin trình bày về những đóng góp của họ trong một dịp khác vậy.

Để tóm tắt lại, ta có thể ghi nhận rằng từ mấy chục năm gần đây, phong trào quần chúng nhân dân tại nhiều nơi trên thế giới đã và đang mỗi ngày một phát triển mạnh mẽ, nhằm dành lại quyền tự quyết của mình trong công cuộc xây dựng một đời sống ấm no hạnh phúc, với tự do, nhân phẩm và nhân quyền được bảo đảm tôn trọng. Đó là một xu thế tất yếu của thời đại, mà không một chế độ độc tài phản động ngoan cố nào lại có thể dùng bạo lực cản trở được.

Mặt khác, vì tuổi thọ của con người cũng mỗi ngày một tăng cao, nên giới sĩ phu trí thức ưu tú tại các quốc gia văn minh dân chủ lại càng có nhiều thời gian để phục vụ quê hương dân tộc của mình với một năng suất tối hảo, để góp phần làm tăng thêm phẩm chất cuộc sống của đồng bào thân thương của mình nữa.

Và đó là niềm hy vọng tươi sáng cho con người trên khắp hành tinh trái đất chúng ta hiện nay trong thế kỷ XXI vậy./

California, tháng Tư 2011

Đòan Thanh Liêm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nơi trạm xe buýt cuối ngày, chuyến xe cuối cùng chuẩn bị lăn bánh. Những người đến trễ và những người muốn ngủ lại nơi băng ghế chờ đợi, sẽ bị bỏ lại. Cơ hội tái diễn cho một chuyến xe khác, có thể là ngày hôm sau. Nhưng hôm sau, nào ai đoán được chuyện gì sẽ xảy ra. Người ta cần phải bước qua, bỏ lại lịch sử phía sau, bằng không sẽ bị bỏ lại bên lề lịch sử.
Cùng thời điểm, các nước trong vùng như Ấn độ, Mã lai, Phi luật tân,...bị Tây phương đô hộ, đều lần lược thu hồi độc lập, tổ chức đất nước theo thể chế tự do dân chủ và nhờ đó, đất nước phát triển mà không phải có hơn 10 triệu dân chết oan uổng như Việt nam. Chỉ vì họ không có hiện tượng Hồ Chí Minh!
NHững người trẻ sẽ không còn là “không chịu lớn.” Họ đã trưởng thành trong suy nghĩ của riêng họ. Và khi phải xuống đường bày tỏ những ước muốn của mình. Họ biết họ phải làm gì. Không thể nào ai đó bảo họ phải làm cái này hay phải làm cái kia. Họ không còn cần phải có lãnh tụ. Đất nước cần những con em như thế.
Hiệp Định Geneve, cũng như Hiệp Định Paris, đối với Bác và Đảng – rõ ràng – đều chỉ là một mớ giấy lộn. Tổng Tuyển Cử (1956) hay Đình Chiến (1973) cũng thế. Hoà bình là từ ngữ không hề có trong tự điển của những người cộng sản. Họ nhất định phải nhuộm đỏ hết cả nước VN (bằng mọi giá và mọi cách) thì mới thoả lòng.
Lần đầu tiên tôi đi thăm Huynh Trưởng Huy Phương đang bệnh già. Đây là chuyến "thoát ly" đặc biệt sau hơn một năm tự giam mình. Trong suốt thời gian Huynh Trưởng bị bệnh, nằm nhà thương dài dài trong bao nhiêu ngày có đại dịch, tuy không phải bị con virus mắc dịch hành hạ, nhưng là một bệnh ngặt nghèo phát sinh theo tuổi tác.
Mùa an cư năm nay không có Thông Điệp giáo giới của Tôn Sư Tòng lâm Tông tượng sách tấn bốn chúng như pháp như luật hành trì. Những tiếng kêu của lừa dê chồn cáo không thay thế được tiếng rống của sư tử chấn động ma quân. Vậy, không gì hơn chúng ta cùng đọc lại “Huấn thị an cư Phật lịch 2548” của Đức Đệ Tứ Tăng Thống Trưởng lão Hòa thượng Thích Huyền Quang. Huấn thị không nói gì nhiều hơn ngoài những kim ngôn Thánh giáo mà Đức Thích Tôn đã truyền dạy trên 25 thế kỷ. Tụng đọc và suy niệm kỹ.
Nhìn chung, vấn đề hoàn toàn bế tắc khi cả hai phe đều vi phạm pháp luật, tận dụng bạo lực để duy trì mọi yêu sách và không có thiện chí hiếu hoà để giải quyết tranh chấp. Các nỗ lực quốc tế, đặc biệt nhất là qua nhiểu tổng thống Mỹ, không mang lại kết quả. Các chương trình viện trợ tái thiết của các định chế quốc tế không tô điểm cho cuộc sống của dân chúng tốt đẹp hơn. Tình trạng thảm hại chung là thực tế đau thương.
Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật, người nào làm việc xấu thì gặp việc xấu đến, người nào làm việc tốt thì mọi sự tốt lành sẽ đến. Sống làm sao được bình yên trong tâm hồn là đủ, giàu nghèo sang hèn đâu có gì quan trọng, sống mình biết đủ là đủ. Hãy nhìn tính tốt của người khác, người nào cũng có tính tốt, tại chúng ta không nhìn thấy mà thôi?
Những bộ óc siêu đẳng của con người tạo ra trí tuệ nhân tạo được thể hiện qua máy móc. Những ứng dụng của trí tuệ nhân tạo đã phục vụ đời sống con người ngày càng tốt đẹp hơn. Khoa học thần kỳ nầy đã được áp dụng trong mọi sinh hoạt của con người hầu hết trong mọi lãnh vực.
Trước sự kiện lịch sử sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc mà Việt Nam, một nước nhỏ so với Trung Quốc hùng mạnh, rộng lớn với dân số đông gấp trăm lần đã không bị đồng hóa mà vẫn giữ được độc lập, nên một số sử gia Việt Nam và ngoại quốc đã rất ngạc nhiên. Theo họ, có lẽ nước ta đã nhờ nhiều lý do như ngôn ngữ, tôn giáo, địa thế và dân Việt có một truyền thống và nghị lực vững mạnh, v.v. Riêng G.S. Ngô Nhân Dụng, trong tác phẩm nghiên cứu lịch sử “Đứng Vững Ngàn Năm” đã cho rằng: “Sau ngàn năm Bắc thuộc mà dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, sau cùng lại dựng được một quốc gia độc lập; đó là một phép lạ lịch sử”.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.