Hôm nay,  

Lòng Mẹ

09/04/201100:00:00(Xem: 10622)

Lòng Mẹ 

long_me_vietnam-large-content: Hình ảnh bà mẹ Việt Nam.

Trương Phú Thứ

Nước Mỹ dành riêng ngày "8 tháng 5" để tôn vinh các Bà Mẹ. Một ngày trong năm hay cả 365 ngày trong năm cũng không đủ để những người con có lòng hiếu thảo bầy tỏ tấm của họ đối với những người Mẹ đã mang nặng đẻ đau và dưỡng dục đàn con. 

Có bút mực nào nói lên công ơn của các Bà Mẹ cho được tron vẹn" Một bài hát rất quen thuộc của nhạc sĩ Y Vân "Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào…" cũng chỉ diễn tả được một tiếng lòng rất đơn sơ của đứa con với mẹ hiền, còn triệu triệu tiếng lòng từ trái tim nhỏ bé của con muốn được tuôn trào ra khỏi lồng ngực, muốn được bốc hơi ra từ tâm tưởng để đền đáp công ơn và tình yêu vô tận của mẹ. Chẳng có bài văn, áng thơ hay câu hát nào có thể nói lên được tình mẹ con thiêng liêng như hương hoa của đất trời. Công lao dưỡng dục sinh thành của Mẹ như núi cao biển rộng.

Từ ngày mẹ mang con trong lòng đến những ngày mẹ mỏi mắt dong duổi với từng bước chân phong trần của con trên những lối đi gập ghềnh của cuộc đời. Hình bóng mẹ lúc nào cũng ôm ấp con, lúc vui buồn khi vinh nhục. Mẹ luôn là điểm tựa vững chắc của con. Lúc con ốm đau cũng như khi con khoẻ mạnh thì bát cháo đầy, ly nước ngọt của mẹ đã nuôi sống con và giúp con mạnh tiến trên đường đời. Mẹ là hơi ấm trong đêm giá lạnh. Mẹ là bóng mát giữa trưa hè nóng nực. Mẹ đã gánh chịu những mọi đau khổ gian truân để chỉ vì tương lai của đời con. Mẹ bóp bụng chịu đói, quần áo mẹ vá chằng vá đụp nhưng con luôn được no đủ áo quần lành lặn bằng tình thương không bờ không bến của mẹ. Mẹ là tất cả và con yêu mẹ hơn chính sự sống của con vì mẹ đã hy sinh đời sống mình cho con.

Tôi đã ngồi lặng người trong bóng tối của một đêm đầu Xuân để tìm kiếm những từ ngữ đâu đó trong tâm khảm và cái vốn liếng văn chương hạn hẹp của tôi để viết ra những lời ca tụng những Bà Mẹ Việt Nam. Những Bà Mẹ đã dằn bụng chịu cơn đói hành hạ nhưng vẫn tươi cười vun đầy bát cơm cho con. Những Bà Mẹ quần áo vá lớp trên lớp dưới âu yếm nhìn con lành lặn chạy nhẩy vui chơi với chúng bạn. Những Bà Mẹ đã tháo chiếc nhẫn cưới vội chạy vào nhà thương đổi lấy những viên thuốc cho con trên giường bệnh. Những Bà Mẹ khóc không ra tiếng ôm xác con bọc trong tấm vải nhựa trên chiếc xe thồ chậm chạp lăn bánh giữa đêm khuya. Bà Mẹ Việt Nam ơi! Chẳng có chữ nghĩa nào có thể diễn tả được lòng mẹ thương con; chẳng có lời văn áng thơ nào nói lên đươc những gian nan khổ cực mẹ đã vì con mà phải gánh chịu. Mẹ đã khô cạn nước mắt vì con; mẹ đã vắt kiệt sức lực còm cõi vì bát cơm manh áo cho con; và trái tim mẹ đã khô héo vì những chông gai con vấp ngã trên đường đời. Con đã làm gì để đền đáp công lao sinh thành dưỡng dục. Con đã có lần nào mang đến cho mẹ một nụ cười, một niềm vui. Đã lần nào con bưng hầu mẹ một ly nước mát giữa trưa hè oi bức, một bát cháo nóng vào buổi tối mưa gió bão bùng. 

Một bài thơ dàn dụa nước mắt của nữ sĩ Nguyễn Thị Mai, "Qua hàng trầu nhớ mẹ" mà người đọc chắc không khỏi nước mắt ngắn dài. Nhân dịp lễ Tôn Vinh các Bà Mẹ, tôi xin được đọc bài thơ dấu yêu như một bó hoa hồng trắng của những người không còn mẹ và bó hoa hồng đỏ của những người con đang được ấp ủ dưới bàn tay yêu thương của mẹ. 

Gian hàng trầu vỏ quen một thưở

Cau tươi vỏ thắm, lá thơm cay

Đi chợ con bớt dăm đồng vặt

Mua để mẹ ăn mỗi thường ngày

*

Quết trầu đỏ thắm làn môi mẹ

Sau bữa cơm đèn trải chiếu hoa

Mẹ ngồi thong thả bên hè mát

Hàng xóm sang chơi, ấm cửa nhà

*

Nhưng rồi hình bóng về xa khuất

Mẹ chẳng còn ăn những miếng trầu

Chiếc cơi trống vắng hơi đồng lạnh

Con đặt tay vào ngón buốt đau

*

Mẹ ơi! Thơm cay một miếng trầu xưa

Mà con phải bớt tiền mua vì nghèo

Bây giờ đã bớt gieo neo

Lại không còn mẹ mà chiều. Khổ không"

*

Từ ngày đưa mẹ ra đồng

Qua hàng trầu vỏ con không dám vào.

(Nguyễn Thị Mai - "Qua hàng trầu nhớ mẹ)

Vần thơ êm ái nhẹ nhàng, tiếng thơ thanh thoát như hương hoa của buổi sớm mai đầu Xuân nói lên lòng yêu thương khôn nguôi của người con gái khóc nhớ mẹ. Những kỷ niệm chất ngất dạt dào của mẹ và con đã đi vào dĩ vãng như trầm hương bay lên trong cõi không gian vô tận. 

Nhưng miền dấu ái mặn nồng với bao vui buồn vẫn còn vướng vất đâu đây, lãng đãng trên giàn thiên lý, dật dờ nơi khay trầu của mẹ. Ngày còn mẹ, vì gia cảnh "gieo neo" cô con gái thi sĩ của chúng ta đã không phụng dưỡng cho thoả tình hiếu thảo. "Bây giờ đã bớt gieo neo. Lại không còn mẹ mà chiều. Khổ không""

Nhân dịp ngày lễ Tôn Vinh các Bà Mẹ, tôi xin kính cẩn dâng lên bó hoa muôn ngàn hương sắc đến tất cả các Bà Mẹ Việt Nam. Những Bà Mẹ đang "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" ở những vùng đất sỏi đá miền Trung nước Việt, nhặt mót từng nắm lúa để đóng tiền trường cho con. Những Bà Mẹ đang vật vờ giữa đêm khuya, lượm nhặt miếng giấy mảnh chai để mua cho con tập giấy, cái bút; mong con yên tâm học hành cho nên người. Công lao và tình yêu vô tận của những Bà Mẹ Việt Nam đã bay lên trên giới hạn chữ nghĩa của tôi và đàn con của các Bà Mẹ. 

Chúng con muôn đời khắc ghi công ơn trời biển của các Bà Mẹ Việt Nam vô cùng yêu mến.

Trương Phú Thứ

(Ngày Các Bà Mẹ 2011)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đời về chiều bỗng trở nên rảnh rỗi. Đôi khi, rảnh muốn khóc luôn nên tôi đâm ra uống hơi đều và cũng hơi nhiều. Chắc sợ thằng em dám chết vì rượu nên không ít anh chị hằng tâm (và hằng sản) đã nhờ tôi đi làm việc thiện, giúp những người Việt nghèo khó – sống rải rác và quanh quất – ở Biển Hồ. Tháng này, chị Kim Bintliff – Houston TX – biểu tôi đến làng Kor K’ek, cách Kampong Luong Floating Village (thuộc tỉnh Pursat) chừng hai giờ ghe máy. Tôi đã đến đây đôi ba lần trước, vì chuyện làm trường học, và không hề bị phiền nhiễu gì ráo trọi. Lần này, trưởng ấp ngỏ lời xin thêm mấy phần gạo (cho chính gia đình và vài người nữa) khiến tôi hơi khó chịu. Tuy thế, ngay khi lên bước chân lên cái nhà nổi ọp ẹp và chật hẹp của ông ta thì thái độ của tôi thay đổi hẳn. Họ cũng cùng quẫn, có khác chi những đồng bào trôi sông lạc chợ của mình đâu.
Sách "Bên thắng cuộc" của Huy Đức kể lại nhiều chuyện bí ẩn trong hàng ngũ cộng sản mà người ngoài, nhứt là người miền nam, ít ai biết và cả một số chuyện liên hệ tới giới chức miền nam sau 30.04/75 trong cải tạo và tù vượt biên dưới thời ông Võ văn Kiệt. Có chuyện tác giả kể hấp dẫn nhưng không đúng sự thật bởi chính người trong cuộc, tức nạn nhơn, đọc qua chuyện của mình đã phải ngạc nhiên. Nhưng dầu sao, sách "Bên thắng cuộc" vẫn có giá trị thông tin khá hơn nhiều sách khác của người cộng sản viết mà ta đọc qua.
Hai phần ba thế kỷ đã qua, ba thế hệ đã bị hy sinh: hy sinh chống Pháp để giành độc lập, hy sinh chống Mỹ để thống nhất đất nước, hy sinh làm những nông dân không có đất, và những công nhân không có tay nghề để đô thị hoá và công nghiệp hoá đất nước. Với đường lối giáo dục hiện nay, rõ ràng, Đảng và Nhà Nước đang tính hy sinh (luôn) thế hệ kế tiếp – thế hệ thứ tư!
Nhìn lại trên 3 năm vừa qua được ghi nhận Mỹ càng ngày xung đột với Trung Cộng mà có lẽ cao điểm là trong tháng qua. Quả thực vậy cả 2 bên đã không còn coi nhau như là đối tượng hợp tác thân thiết như trong thời kỳ TT Obama mà nay càng ngày càng công khai chống nhau kịch liệt trên mọi phương diện, nếu hoàn cảnh cho phép!.
Trong ký ức thơ ấu của tôi, Đà Lạt không phải là nơi có nhiều chim chóc. Ngoài những bầy sẻ ríu rít đón chào nắng sớm trên mái ngói, và những đàn én bay lượn khắp nơi vào lúc hoàng hôn – thỉnh thoảng – tôi mới nhìn thấy vài chú sáo lò cò giữa sân trường vắng, hay một con chàng làng lẻ loi (và trầm ngâm) trên cọc hàng rào. Chào mào tuy hơi nhiều nhưng chỉ ồn ào tụ họp, giữa những cành lá rậm ri, khi đã vào hè và trái mai (anh đào) cũng đà chín mọng. Họa hoằn mới thấy được thấy đôi ba con chim lạ, đỏ/vàng rực rỡ (chả biết tên chi) xa tít trên những cành cây cao ngất, giữa đồi thông vi vút.
Với một người Mỹ gốc Việt như tôi, Tháng Lịch Sử Người Da Đen có nghĩa gì? Các từ “Da đen”, “Người Mỹ gốc Phi châu”, và “Người Mỹ gốc Việt,” tự chúng đã là các tên gọi nặng nề. Ngay cả khi được sử dụng chỉ để đòi lại căn cước và phẩm giá, chúng vẫn đầy rẫy sự phân chia chủng tộc, dù là thời nay hay trong quá khứ. Suy ngẫm về lịch sử người Da đen, làm sao tôi có thể vượt qua cái hậu quả dã man của sức tưởng tượng và các chính sách của người da trắng Châu Âu đã bắt rễ từ hơn 500 năm trước?
Toàn thể nhân loại đều đang hướng về Hương Cảng với ánh mắt lo âu cùng chia sẻ. Ngay cả báo giới của nước CHXHCNVN cũng vậy, cũng trích dịch từ những nguồn tin với ít nhiều hảo cảm dành cho những công dân ở hòn đảo nhỏ bé này: Theo South China Morning Post, giới chức sân bay Hong Kong đã hủy bỏ tất cả các chuyến bay kể từ 16h (giờ địa phương), đổ lỗi cho những cuộc biểu tình đã "làm gián đoạn nghiêm trọng" việc vận hành của sân bay, ngăn cản hành khách làm thủ tục check-in và kiểm tra an ninh.
Chuyện kỳ thị chủng tộc ở Mỹ không có gì mới. Nó đã tồn tại hàng nhiều thế kỷ và sẽ còn tồn tại bao lâu còn có sự sống chung giữa các màu da Trắng, Đen, Vàng, Nâu trong cùng một quốc gia có tên gọi Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Bất kể luật pháp nước Mỹ đã có và hiện có những biện pháp mạnh mẽ đối phó với vấn nạn kỳ thị. Bất kể các hệ thống truyền thông, các mạng lưới xã hội thường xuyên lên án các hành vi kỳ thị dù xuất hiện dưới bất cứ hình thức nào.
Hồi cận Tết năm Thìn, Marianne Brown (Guardian Weekly) có bài “Vietnam’s parents want a dragon son.” Trời! Tưởng gì, chớ cả Tầu lẫn Ta ai mà không muốn có con trai tuổi Rồng. Nhâm Thìn, tất nhiên, lại càng bảnh dữ nữa. Nam nhâm nữ qúi thì sang mà lị. Theo tuviso.com: “Tuổi Nhâm Thìn có nhiều hy vọng tốt đẹp về vấn đề tình duyên và tương lai về cuộc sống, có phần tốt đẹp về tình cảm và tài lộc, vào trung vận và hậu vận thì được nhiều tốt đẹp về hạnh phúc, công danh có phần lên cao.” Hổng dám “cao” đâu! Phạm Viết Đào, Trần Đức Thạch, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thành đều nhâm thìn hết trơn đó chớ nhưng hậu vận – rõ ràng – lận đận (thấy bà luôn) chớ có “tốt đẹp” hay “hạnh phúc” khỉ mốc gì đâu. Cả bốn ông đều đã (hoặc đang) trong hộp!
Có nhiều bằng chứng Lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đã ngủ mê trong vòng tay người Tầu từ đất liền ra Biển Đông. Trước hết, hãy nói về chuyện đất liền. Từ năm 2010, các Công ty gốc Tâu từ Trung Hoa, Hồng Kông và Đài Loan đã đồng loạt nhảy vào Việt Nam thuê đất đầu nguồn, dọc biên giới Việt-Trung, Việt-Lào và Việt-Kampuchea để trồng cây nguyên liệu. Các dự án trồng rừng được chính quyền địa phương cho thuê dài hạn 50 năm, đa số nằm ở vị trí chiến lược quốc phòng, hay còn được gọi là “nhạy cảm”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.