Hôm nay,  

Chính Danh

27/05/201100:00:00(Xem: 8392)

Bùi Tín Viết Riêng Cho VOA Thứ Tư, 25 Tháng 5 Năm 2011: Chính Danh

Bùi Tín
Có một đôi điều liên quan đến cuộc bầu cử quốc hội trong nước ngày Chủ nhật 22 tháng 5 vừa qua gợi ý nên đặt ra vấn đề chính danh, chẳng những của cơ quan lập pháp này mà còn của một số định chế then chốt khác của Việt Nam. Trong tinh thần đó, người ta có thể hỏi: Quốc hội khóa XIII vừa được bầu trong nước hôm chủ nhật vừa qua có thật là một «Quốc hội» đúng nghĩa hay không" Theo tôi, có thể không có mấy người dân bình thường hoặc nhà quan sát thời cuộc quốc tế công nhận rằng 500 vị vừa được bầu là đại biểu của toàn dân, được cử tri lựa chọn theo ý mình, là những đại diện chân chính của nhân dân trong toàn quốc.
Vì sao như vậy" Theo tôi nghĩ, ít nhất có hai lý do. Trước hết, đó là vì gần 90% đại biểu là đảng viên cộng sản, trong khi đảng CS chỉ chiếm chừng 3% số dân, nghĩa là chưa đến 9% cử tri. Hai là, cung cách tuyển chọn ứng cử viên do Bộ Chính trị thông qua danh sách và xét duyệt, và Mặt trận Tổ quốc do đảng CS tổ chức và lãnh đạo chặt chẽ đứng ra thông qua.
Điều này càng rõ khi trước lúc Quốc hội khóa XIII chào đời, Bộ Chính trị đảng CS khóa XIII đã phân công trước cho một số đảng viên cấp cao nắm giữ những chức vụ lãnh đạo nhà nước như ông Trương Tấn Sang làm Chủ tịch nước, ông Nguyễn Sinh Hùng làm Chủ tịch Quốc hội, ông Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng thêm một nhiệm kỳ.

Điều trên đây càng rõ khi tất cả 14 vị trong Bộ Chính trị đều là đại biểu Quốc hội, khi bí thư hay phó bí thư tỉnh ủy và thành ủy đảng CS cũng là đại biểu Quốc hội. Rõ ràng dùng danh từ Quốc hội là không ổn, không đúng nghĩa, không chính xác, do đó không chính danh. Điều đáng nói ở đây là tình trạng thiếu chính danh này đã tồn tại quá lâu - hơn nửa thế kỷ - kéo dài 13 khóa rồi.
Vấn đề chính danh cũng cần được đặt ra với một định chế khác: Đó là báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của đảng CSVN. Ở đây, đảng CS là đảng, còn nhân dân là nhân dân, là 2 thực thế khác hẳn nhau, không thể đồng nhất, nhập nhằng được. Từ nay, để cho danh chính ngôn thuận, báo Nhân Dân cần phải mang tên Cộng Sản, đàng hoàng, ngay thật, chính xác, như tạp chí lý luận của đảng CS ra hàng tháng mang tên Tạp chí Cộng Sản vậy.
Không phải ngẫu nhiên mà báo Úc The Age, và báo Pháp Le Monde có lần đã giới thiệu rằng ở Việt Nam báo Nhân Dân là tờ báo của đảng CS, cũng là báo ế ẩm nhất, gần như không có mặt trên sàn bán báo mỗi buổi sáng, cũng thường được dùng để gói hàng và cả chuyện vệ sinh. Nhân dân chẳng ai coi báo ấy là của mình cả.
Nếu muốn đồng nhất đảng CS với nhân dân, thì xin hỏi các cửa hàng đặc biệt của đảng CS, các nhà nghỉ đặc biệt của đảng CS có cho người dân nào vào mua hàng quý hiếm với giá rẻ và hưởng những tiêu chuẩn đặc biệt hay không" Lúc ấy đảng và nhân dân có phải là một hay không"
Bùi Tín

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.