Hôm nay,  

NHẠC VÀ LỜI

13/07/201100:00:00(Xem: 9649)

NHẠC VÀ LỜI

Luân Tế

Tôi được thầy Lê Thương dậy nhạc năm Đệ Ngũ ở trường Nguyễn Bá Tòng. Hình như lúc đó Âm Nhạc là môn chọn chứ không phải bắt buộc (có lẽ giống như Hội Họa và Hán Văn). Mỗi tuần một giờ. Tôi chỉ biết tới Năm Dòng Kẻ, Đồ, Rê, Mi, Fa, Sol, La, Si; Khóa Sol, Dấu Thăng, Dấu Giáng – chấm hết. Nhưng tôi rất mê nghe nhạc. Không phải nhạc Việt Nam thời đó mà là nhạc ngoại quốc. Tôi có thằng bạn cùng xóm tên là Nguyễn Văn Chiến. Chiến có một mái tóc quăn rất đẹp, chải tém hai bên và bồng lên ở giữa, giống hệt mái tóc của Ricky Nelson. Và Chiến có biệt tài bắt chước tất cả các ca sĩ Anh, Mỹ, Pháp…tuy không hề biết nhiều về những thứ tiếng này. Chỉ cần nghe dĩa chừng hai lần là Chiến có thể bắt chước hát y chang, từ Ray Charles cho tới Cliff Richards, từ Elvis tới Vince Taylor, từ Paul Anka tới Pat Boone, từ Johnny Hallyday tới Enrico Macias tới Charles Aznavour mà không hiểu là những lời mình hát có nghĩa gì. Cả bọn chúng tôi - chừng sáu, bẩy thằng - cũng thế. Riêng tôi, lúc đó hãy còn khá tiếng Pháp nhờ học tại Tiểu học Puginier rồi vào trường dòng và sau nhờ thầy Đinh Cảnh Thụy dạy dỗ tại mấy năm Trung Học Đệ Nhất Cấp nên hiểu được lời của các bản nhạc Pháp…Tous les Garcons et les Filles…Et Maintenant…vv…còn lời mấy bản nhạc Mỹ thì mù tịt. (Thầy tôi, người khắc khổ, gầy gò, khó tính, đi xe đạp, trời Sài Gòn nóng như đổ lửa nhưng lúc nào cũng đóng sơ mi trắng cổ cồn, complet và cravate đen trong lớp. Một trong những méthode dạy tiếng Pháp của thầy là chú trọng đến vocabulaire. Và cách hay nhất để làm giầu cho vốn liếng vocabulaire là phải học và nhớ những Mots De La Même Famille).

Tôi chỉ biết đánh guitar sơ sơ nhưng có một lần muốn làm le với đào, bỏ cả tuần học thuộc lòng và luyện mấy ngón tay cho nhuyễn để đánh bài Midnight của The Shadows. Rồi hôm đến chơi ở một cái “bum” trong một vi la, gặp ban nhạc quen, lân la lên sân khấu xin solo guitar điện cho bản “Slow” này. Em bé phục lăn. Tôi vừa đánh vừa run nhưng cũng cố bấm bụng và bấm mấy ngón tay trên phím tới nốt cuối cùng rồi buông đàn, tự thề là không bao giờ chơi dại như thế nữa vì mấy đầu ngón tay đau quá. Đó là bước đầu trong cái nghiệp “Cầm Ca” của tôi.

Lớn thêm một chút, tôi bắt đầu nghe nhạc Việt, khởi sự từ những bản Bolero. Rồi leo dần, leo dần…tôi nghe nhạc Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Văn Phụng, Vũ Thành, Cung Tiến, Y Vân, Hoàng Trọng vv … Những ca khúc này làm tôi cảm thấy rung động trong tâm hồn. Nhất là về những lời nhạc. Những lời nhạc giản dị, đi thẳng vào lòng:

-Buồn vào hồn không tên

Thức giấc nửa đêm, nhớ chuyện xưa vào đời

Đường phố vắng đêm nao quen một người

Mà yêu thương trót trao nhau trọn lời…(Nửa Đêm Ngoài Phố - Trúc Phương)

-Yêu nhau trong cuộc đời,

Mơ duyên tình dài, gắn bó đôi lời.

Ta quen nhau một ngày,

Thương nhau trọn đời, giữ cho lâu dài…(Ngăn Cách – Y Vân)

-Tôi yêu tiếng nước tôi

Từ khi mới ra đời, người ơi…

Mẹ hiền ru những câu xa vời…

A a ơi, tiếng ru muôn đời…(Tình Ca-Phạm Duy)

-Lìa xa thành đô yêu dấu,

Một sớm khi heo may về

Lòng khách tha hương vương sầu thương…(Giấc Mơ Hồi Hương – Vũ Thành)

-Đêm nay đêm cuối cùng gần nhau.

Lệ buồn rưng rưng, lời hát thương đau.

Nhịp bước bâng khuâng ngoài phố lạnh.

Giọt sầu rơi rớt hồn phiêu linh…(Đêm Cuối Cùng – Phạm Đình Chương)

-Yêu là lòng bâng khuâng

Nhớ hay thương, một chiều thu vương

Gió êm đưa xào xạc tre đưa

Lá rơi rơi, rơi tả tơi…(Yêu – Văn Phụng)

Không có một chữ nào thừa. Không một câu nào, một chữ nào hát lên hay nghe hát mà phải nhăn mặt, cúi đầu, moi óc suy nghĩ xem câu đó, chữ đó có nghĩa gì. Cao, thấp, văn chương, máy nước ("), tượng thanh, tượng hình, đủ cả. Chỉ có điều, sau này lớn lên tôi mới nhận thấy, là nhạc Việt Nam buồn quá. Có lẽ vì các nhạc sĩ đã phản ảnh được tâm trạng của dân tộc ta trong cuộc chiến tranh dài từ những năm 40.

Đến khi tôi lớn hẳn thì có một biến chuyển hơi lạ trong nền âm nhạc Việt Nam. Đó là việc một số nhạc sĩ, có lẽ không còn hài lòng với những lời nhạc của mình đã từng đi thẳng vào lòng người nghe, chuyển sang một hướng khác - không chỉ còn thuần túy là nhạc sĩ nữa - mà là dùng âm nhạc để khoác thêm cho mình một cái áo thứ hai là…thi sĩ, họa sĩ, triết gia vv…và thính giả, càng nghe càng cảm thấy mình dốt vì không hiểu nhạc sĩ muốn truyền đạt những tư tưởng gì trong lời nhạc của mình. (Phải công bằng mà nói là một số những ca khúc “mới” này phổ thơ của người khác. Thi ca còn có thể và nhiều khi đòi hỏi tính chất trừu tượng; nhưng người nhạc sĩ, dù phổ thơ, tựu chung, vẫn phải chịu trách nhiệm về ca khúc của mình)

Chẳng hạn như:

-Ru mãi ngàn năm, dòng tóc em buồn

Bàn tay em năm ngón ru trên ngàn năm

Trên mùa lá xanh, ngón tay em gầy

Nên mãi ru thêm ngàn năm…(Trịnh Công Sơn – Ru em từng ngón xuân nồng)

Bài này có lẽ tôi đã nghe vài trăm lần và nghe rất “đã”. Ngôn ngữ sử dụng tuyệt vời, nhạc quyện với lời. Nhưng đến lúc nghe kỹ từng chữ một, rồi cầm bản nhạc lên xem cho kỹ thì …không biết nhạc sĩ muốn nói gì. Chữ nào cũng hiểu mà kết thành câu thì như jigsaw puzzle của một bức tranh Picasso (hai con mắt có thể lắp vào ở dưới mông). Không đủ kiến thức về hội họa mà đòi xem tranh lập thể thì còn ráng chịu mang tiếng dốt; nhưng bố mẹ nghèo cố gắng nuôi con cho ăn học mười mấy năm mà chữ nghĩa bằng tiếng Việt không hiểu thì tôi ức lắm. Ngoài ra, vì méo mó nghề nghiệp - tôi còn là một dịch giả - tôi thử ướm mấy chữ tiếng Anh vào thay cho mấy chữ tiếng Việt thì…không làm được (vì không hiểu mấy câu tiếng Việt thì làm sao dịch ra tiếng Anh được).

Hãy so với những lời nhạc khi TCS hãy còn là…nhạc sĩ:

-Chiều chủ nhật buồn,

Nằm trong căn gác đìu hiu

Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều

Trời mưa, trời mưa không dứt

Ô hay, mình vẫn cô liêu…(Lời Buồn Thánh – Trịnh Công Sơn)

Tôi nghe mà lặng người. Lòng chùng xuống, vì cái cảnh cô liêu nằm trong gác trọ một chiều chủ nhật mưa không dứt thì không có gì buồn hơn. Và không phải dùng trí tưởng tượng quá nhiều. Không phải nặn óc ra tìm một cái “metaphor” tiềm ẩn trong những lời ca.

Vì tôi là một kịch sĩ nên có lẽ những gì tôi học được trong kịch có ảnh hưởng đến những suy nghĩ về những chuyện khác của tôi. Kịch là để diễn. Diễn thì phải có khán giả hay thính giả. Nếu một diễn viên (trên sân khấu - màn ảnh nhỏ - màn ảnh lớn - radio) nói lên một câu nào “Picasso”- trừu tượng - quá, hay “Sartre” - triết lý - quá, đến nỗi khán giả phải khựng lại, cố gắng lục lọi trong trí tuệ tìm hiểu xem diễn viên đó muốn nói gì, và không nghe những lời đối thoại tiếp theo. Và vì không theo dõi kịp diễn biến trong vở kịch chỉ vì một câu nói hơi trừu tượng hay quá triết lý, người khán giả đó thấy mất hứng, không còn hòa mình vào trong bối cảnh của vở kịch đang diễn nữa. Thế là chỉ vì một câu nói của một diễn viên, dùng lời văn của người viết kịch, mà làm hỏng cả một vở kịch. Hầu hết những vở kịch được viết ra và in thành sách đều vấp phải cái nạn này. Phần lớn là vì những kịch tác gia thường không phải là kịch sĩ, không có kinh nghiệm sân khấu, và không học về kịch nên không nhận ra cái lỗi của mình. Cứ làm sao gọt dũa cho đối thoại của mình trong kịch “kêu” là “thú” rồi. Đã có một thời ở Việt Nam có hai chữ “Kịch Đọc” đi song song với “Kịch Nói”. Một số các vở kịch này chỉ có giá trị văn học chứ không thích hợp với sân khấu.

Trường hợp này cũng có thể áp dụng cho các ca khúc. Nói nôm na là sự khác nhau của “Nhạc Hát” và “Nhạc Đọc”. Có mấy ai đủ khả năng cầm bản nhạc lên, đọc “nốt”, và “nghe” thấy tiếng nhạc tưởng tượng trong đầu" Tôi cả quyết với bạn - như là một thính giả bình thường - là chưa bao giờ bạn cầm một tờ nhạc lên, nhìn vào những “nốt” trên năm dòng kẻ, rồi đưa mắt xuống nhìn vào hàng chữ, đọc lời ca và thốt lên, “Bài này hay tuyệt!”. Nếu lời ca làm bạn cảm động, thấm thía thì đó là lời văn tạo ra tâm trạng đó trong lòng bạn chứ không phải âm nhạc.

TCS chỉ là một trong các nhạc sĩ trong giới nhạc Việt Nam đã “morphed” - chuyển thể - từ nhạc sĩ thành … họa/thi sĩ. Thử so sánh hai ca khúc của Phạm Đình Chương vào hai giai đoạn khác nhau trong cuộc đời sáng tác của ông:

-Sao không thấy em lại

Để cùng anh thẩn thơ,

Trước sân trăng vòi vọi,

Để rồi cùng ước mơ… (Thưở Ban Đầu – Phạm Đình Chương)

Và sau này:

Em gối đầu sương xuống,

Chuyện trò bằng bóng mình.

Em gối đầu sương xuống,

Tôi đẹp bóng hình tôi…(Đêm Mầu Hồng – Phạm Đình Chương)

Không biết bạn ra sao chứ tôi thì ...chịu. Nghe thì hay, nhưng hơi lập dị. Và đòi hỏi ở người nghe quá nhiều trong khi mục đích của âm nhạc nói chung - theo tôi - là làm cho con người thích thú, thư thái, trong cái “mode” thưởng thức chứ không phải lắng nghe rồi…đoán (như tôi vẫn bị), và phần nhiều là đoán mò, đoán sai…

Tôi không biết nhạc Tầu hay nhạc Nhật hay nhạc Ấn Độ hay nhạc Ai Cập (những nước có nền văn hóa sâu và lâu) có những lời lẽ “huyền bí” như nhạc Việt Nam không.

Tôi nhớ đến những bài hát đầu tiên của Từ Công Phụng mà cả nước hát theo (tuy có đổi lời một chút):

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em"

Lênh đênh ngàn mây trôi êm đềm.

Chiều nay nếu em đừng hờn dỗi,

trách nhau một lời thôi.

Tâm hồn mình đâu lẻ đôi…(Bây Giờ Tháng Mấy - Từ Công Phụng)

Và một sáng tác của anh khoảng 30 năm sau:

Mưa soi dấu chân em qua cầu.

Theo những cánh rong trôi mang niềm đau.

Đời em đã khép đi vội vàng.

Tình ta cũng lấp lối thiên đàng.

Như cánh chim khuất ngàn, như cánh chim khuất ngàn…(Mắt Lệ Cho Người – Từ Công Phụng)

Tôi thích bài này đến nỗi phải “chôm” nó làm nhạc nền cho một cuốn phim của tôi tuy lúc đó (1993) hoàn toàn không biết tác giả là ai.

Tôi nghĩ là từ trước tới sau, Từ Công Phụng vẫn giữ được cái thanh tao của văn chương và cái nhẹ nhàng, dễ hiểu của ngôn ngữ cần thiết trong âm nhạc.

Quay sang nhạc ngoại quốc. Một bài hát được khắp thế giới coi như một bài “weighty”, “deep”, “philosophical”, một thông điệp cho hòa bình và con người là bài “Imagine” của John Lennon.

Imagine there's no heaven

It's easy if you try

No hell below us

Above us only sky

Imagine all the people

Living for today...

Imagine there are no countries

It isn't hard to do

Nothing to kill or die for

And no religion too

Imagine all the people

Living life in peace...

Một đứa trẻ mới học hết middle school cũng đủ sức hiểu John Lennon muốn nói gì - Lời nhạc của bài này lúc được hát lên sẽ đi vào lòng người nghe ngay lập tức, không cần suy nghĩ sâu xa. Lời nhạc của bài này có thể dịch ra 127 thứ tiếng trên thế giới một cách dễ dàng. No problem. Trust me!

Ở đoạn trên tôi có nói tới âm nhạc Việt Nam buồn quá. Nhất là những bản nhạc tình. Và khi phải đối phó những chia lìa trong cuộc chiến dài dằng dặc thì nhạc buồn trở thành thê lương.

Nhưng nếu nói đến cái gì buồn nhất, đau thương nhất trong con người thì phải nói đến sự mất mát vĩnh cửu - cái chết. Chuyện tình buồn và cái chết là những đề tài thấy rất nhiều trong âm nhạc Việt Nam.

Trong đề tài này, “Kỷ Vật Cho Em” là một tuyệt tác, cả về nhạc lẫn lời ca:

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.

Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime,

Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã,

Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả

Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa,

Anh trở về trên chiếc băng ca

Trên trực thăng sơn màu tang trắng.

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời xin trả lời mai mốt anh về.

Anh trở về chiều hoang trốn nắng

Poncho buồn liệm kín hồn anh

Anh trở về bờ tóc em xanh

Chít khăn sô lên đầu vội vã..Em ơi!

Em hỏi anh. Em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về

Anh trở lại với kỷ vật viên đạn đồng đen

Em sang sông cho làm kỷ niệm

Anh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗ

Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân .

Em một chiều dạo phố mùa Xuân,

Bên nguời yêu tật nguyền chai đá.

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về

Anh trở về nhìn nhau xa lạ

Anhh trở về dang dở đời em

Ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen

Cố quên đi một lần trăn trối ...Em ơi!

Em hỏi anh em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về ...(Kỷ Vật Cho Em - Phạm Duy - Linh Phương)

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Ky-vat-cho-em-Thai-Thanh/IWZB8O00.html (KỶ VẬT CHO EM – THÁI THANH)

Tôi không biết nhạc Tầu hay nhạc Nhật hay nhạc Ấn Độ hay nhạc Ai Cập, nhạc Pháp, nhạc Nga, nhạc Ý, nhạc Tây Ban Nha, nhạc Mỹ - những nước có trai gái, có tình yêu, có chia ly, đã từng trải qua những cuộc chiến dài, thảm khốc, có những nét nhạc não nề và những lời ca bi thiết như nhạc Việt Nam không.

Như là một thí dụ, cũng cùng một đề tài – tuy không dính vào chiến tranh – một chuyện tình buồn và một cái chết đau thương, thử xem một bài hát Mỹ diễn tả bằng cách nào:

Tommy and Laura were lovers he wanted to give here everything

Flowers presents and most of all a wedding ring

He saw a sign for a stockcar race a thousand dollar prize it read

He couldn't get Laura on the phone so to her mother Tommy said

Tell Laura I love her tell Laura I need her

Tell Laura I may be late I've something to do that cannot wait

He drove his car to the racing ground he was the youngest driver there

The crowd roared as they started to race

Around the track they drove at a deadly pace

No one knows what happened that day how his car overturned in flames

But as they pulled him from the twisted wreck

With his dying breath they heard him say

Tell Laura I love her tell Laura I need her

Tell Laura not to cry my love for her will never die

Now in the chapel Laura prays for her Tommy who passed away

It was just for Laura that he lived and died alone in the chapel she can hear him cry

Tell Laura I love her...

My love for her will never die (Tell Laura I Love Her-Ray Peterson)

http://www.youtube.com/watch"v=m2sP5rG47kw. (TELL LAURA I LOVE HER – RAY PETERSON)

Trong bản nhạc Việt Nam, người lính ra đi, hy sinh cho tổ quốc, để lại người yêu với vòng khăn sô quấn vội vã trên đầu.

Trong bản nhạc Mỹ, chàng trẻ tuổi ra đi, mất mạng chỉ vì muốn kiếm được chút tiền mua chiếc nhẫn cưới, để lại người yêu ngồi khóc một mình trong nhà nguyện.

Lời hát sau cùng của người đã mất:

Em hỏi anh em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về…

Lời hát sau cùng của người đã mất:

Tell Laura I love her...

My love for her will never die …

Và từ ca khúc này tôi xin chuyển sang một khía cạnh mới về chủ đề Nhạc Và Lời.

Nam Lộc, một người bạn của tôi, đã dùng nhạc của bài Tell Laura I Love Her này, viết lại lời và tạo ra Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu, với những lời ca thật dễ thương và đã đi vào lòng không biết bao nhiêu là nữ sinh Trưng Vương thời đó. Sau này, ca khúc này đã gần như trở thành một ca hiệu của Trưng Vương mỗi lần họp mặt.

Tim em chưa nghe rung qua một lần

Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần

Tình trần mong manh

Như lá me xanh

Ngơ ngác rơi nhanh.

Thu giăng heo may cho bóng cây lạnh đầy

Người cho em nghe câu nhớ thương từng ngày

Những ngày đợi chờ

Trong nắng vu vơ

Trong mắt ngây thơ.

Nhớ khói bay lạc vấn vương

Cho hơi ấm lên môi người

Lùa sương kín nhẹ vây ngập trường

Làn mây yêu thương

Vướng trong hồn em.

Người mang cho em nghe quen môi hôn ngọt mềm

Tình cho tim em rung những đêm lạnh lùng

Từng chiều cùng người

Về trong cơn mưa bay

Nghe thương nhớ tràn đầy

Lên đôi mắt thật gầy.

Trưng Vương hôm nay mây vẫn giăng đầy trời

Công viên năm xưa hoa vẫn rơi tuyệt vời

Bóng người thì mịt mùng

Từng hàng me run run

Trong cơn gió lạnh lùng

Trong nắng ngại ngùng.

Nắng vẫn vương nhẹ gót chân

Trưng Vương vắng xa anh dần

Mùa thu đã qua một lần

Chợt nghe bâng khuâng

Lá rơi đầy sân...

Nhớ khói bay lạc vấn vương

Nhớ khói bay lạc vấn vương

Nhớ khói bay lạc vấn vương....(Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu – Lời Việt Nam Lộc)

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Trung-Vuong-khung-cu-a-mu-a-thu-Minh-Tuye-t/IW679EAA.html (TRƯNG VƯƠNG KHUNG CỬA MÙA THU – MINH TUYẾT)

Không biết khi làm bài này vào năm 1972, Nam Lộc đã chiếm được bao nhiêu trái tim “trẻ” Trưng Vương; nhưng tôi biết chắc chắn là ngày nay, trên đất Mỹ và có lẽ khắp thế giới, có hàng trăm, hàng ngàn trái tim “già” Trưng Vương, mỗi lần hội ngộ, lại nhớ đến Nam Lộc.

Có nhiều dạng chuyển lời ca của một bài hát từ tiếng này sang tiếng khác. Có bài được dịch lại và giữ nguyên ý, có bài dịch thoáng, có bài dịch phỏng. Và có bài, như Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu vừa nhắc đến ở trên thì chỉ lấy nhạc còn lời là hoàn toàn một sáng tác mới. Có những bài hát dùng cùng một bản nhạc, cùng một âm giai, mà người viết lời đưa vào những ý tưởng hoàn toàn trái ngược. Chẳng hạn như một bài hát trong phim “Black Orpheus”. Bài hát này là một bài hát trong phim, có tên là "Mađana de Carnaval" do chàng tài tử cầm guitar sáng tác trong một lúc ngẫu hứng; sau khi phim ra đời, trở thành nổi tiếng. Một nhạc sĩ Pháp lấy nhạc viết lại thành bài La Chanson D’Orphée. Một nhạc sĩ Mỹ lấy nhạc viết thành bài A Day In The Life Of A Fool. Ý thì hoàn toàn trái ngược. Một bài ca tụng sự thăng hoa của tình yêu; bài kia nói đến nỗi sầu của một người bị tình yêu bỏ lại đằng sau.

Le ciel a choisi mon pays. Pour faire un nouveau Paradis.

Au loin des tourments dans un éternel printemps pour les amants.

Chante chante mon coeur la chanson du matin

Dans la joie de la vie qui revient.

Matin fait lever le soleil. Matin c’est l'instant du réveil

Mais dans le coeur battant de celui que j'attends

Un doux rayon d'amour beau comme le jour

Chante chante mon coeur dans la splendeur du jour

Fait lever le soleil de l'amour

http://www.youtube.com/watch"v=MXDJzHd0BjY&feature=related (LA CHANSON D’ORPHÉE – DALIDA)

A day in the life of a fool, a sad and a long lonely day

I walk the avenue, and hope I'll run into

The welcome sight of you, coming my way.

I stop just across from your door, but you're never home any more

So back to my room, and there in the gloom

I cry tears of good bye.

Till you come back to me,

That's the way it will be every day in the life of a fool.

http://www.youtube.com/watch"v=WKZMjOlmUb4 (A DAY IN THE LIFE OF A FOOL – HARRY BELAFONTE)

Mỗi người nghe nhạc phải cảm thấy rung động một cách khác nhau mới gây nên tình trạng hai ca khúc với hai lời nhạc khác nhau, có thể nói đến tuyệt đỉnh.

Thử so sánh ca khúc với hai lời Anh – Pháp, LES FEUILLES MORTES và THE AUTUMN LEAVES khác nhau như thế nào.

C'est une chanson qui nous ressemble,

Toi tu m'aimais, moi je t'aimais

Et nous vivions, tous deux ensemble,

Toi qui m'aimais, moi qui t'aimais.

Mais la vie sépare ceux qui s'aiment,

Tout doucement, sans faire de bruit

Et la mer efface sur le sable

Les pas des amants désunis. (Les Feuilles Mortes – Jacques Prévert)

http://www.youtube.com/watch"v=ZCToiC9GJsQ (LES FEUILLES MORTES - LAURA FYGI )

The falling leaves drift by my window

The falling leaves of red and gold

I see your lips, the summer kisses

The sun-burned hands I used to hold

Since you went away the days grow long

And soon I'll hear old winter's song

But I miss you most of all, my darling

When autumn leaves start to fall…(The Autum Leaves – Johnny Mercer)

http://www.youtube.com/watch"v=--xW8HPJRY0 (THE AUTUMN LEAVES – EVA CASSIDY)

Có lẽ vì tôi ở Mỹ nên thiên vị chăng, vì nếu cứ xét theo tựa đề thì lời của The Autumn Leaves (Lá Mùa Thu) có phần hay và trung thực với tựa đề hơn lời của Les Feuilles Mortes ( Lá Chết).

Một trong những ca khúc được yêu chuộng nhất thế giới là MY WAY, gắn liền với tiếng hát của Frank Sinatra.

Tôi chọn MY WAY để kết thúc “Nhạc Và Lời” vì nhạc của MY WAY do hai nhạc sĩ Pháp viết (Comme D’habitude); và Paul Anka viết lại lời tiếng Anh hoàn toàn khác với lời tiếng Pháp.

Nhưng ở đây và lần này, thì Nam Lộc dịch nguyên lời của Paul Anka qua tiếng Việt, lấy tên là “Dòng Đời”, Nguyên Khang hát.

Mời các bạn cùng nghe:

http://benxua.com/Music/Popups/PlayAlbum.aspx"SongID=7181 (DÒNG ĐỜI – LỜI NAM LỘC – NGUYÊN KHANG)

Luân Tế

Visit my web site:

http://letuanthewriterswebsite.yolasite.com/

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.