Hôm nay,  

Cô Sâm

01/11/201100:00:00(Xem: 8626)

Cô Sâm

LPK 55-62 Captovan

Kính thưa cô.

Nghe tin anh Sơn, một học cựu học sinh L. Petrus Ký, học trò của cô, vừa về thăm quê hương và đến thăm cô nhưng đã trễ, chỉ được thắp nhang trước bàn thờ của cô, bản tin ngắn ngủi này đến với em vào chiều tối Thứ Bẩy 29 tháng 11 năm 2011 đã khiến em ngưng tất cả mọi công việc để nhớ về cô, để chọn màu mực xanh viết về cô ở tuổi thanh xuân và em mới chỉ là một học trò lớp Đệ Thất của cô.

Thưa cô! Đã 56 năm rồi, hơn nửa đời người, trải qua biết bao thăng trầm từ một học sinh rời trường L.Petrus Ký rồi vào Võ Bị, 13 năm lính, 10 năm tù cải tạo, hơn 20 năm lao đao lận đận tỵ nạn xứ người, nay được biết tin cô đã quy tiên em bỗng cảm thấy một nỗi buổn man mác. Em thú thật với cô là không chảy nước mắt khi nghe tin cô mất, nhưng nếu em nói dối là có khóc như năm xưa đã nói dối cô khi không thuộc bài là cô biết ngay em nói láo, lửa thầy, làm sao có thể nói dối được với ngưởi đã khuất. Nhưng chắc ở chốn bình yên nào đó cô đang chứng giám lòng thành của cậu trò nhỏ năm xưa đang nghĩ nhiều về cô, nhớ và viết những kỷ niệm về cô.

Nếu có ai hỏi họ của cô là gì thì em quên rồi mà chỉ nhớ tên cô là Sâm, cô Sâm dậy môn Sử Địa lớp Đệ Thất niên khóa 55-56, và nhà của cô ở khu cư xá giáo sư phía sau trường, gần phía đường Nguyễn Hoàng, em biết được điều đó là do những lẩn tập thể dục với thầy Bích ở sân vận động thì thấy cô đi về hướng đó chứ em đâu có học giỏi để được cô sai ôm tập đem theo về nhà để cô chấm bài. Em cũng nhớ các cô Dung, cô Hồng, cô Ngà v.v.. và thầy toán hình học Nguyễn Văn Binh, thầy Pháp Văn Phạn Văn Ba, thầy Đảnh, thầy Đính lý hóa, thẫy Võ Trọng Phỏng, thầy Đồ và thầy Thái dậy Anh Văn, thầy Tạ Ký, thầy Thái Chí, thầy Trần Thượng Thủ tức thầy TTT mà thầy thường khôi hài là trong túi thầy lúc nào cũng có cái lược v.v.. Nhưng mỗi khi gặp bạn cùng lớp, nhắc về thầy cũ trường xưa thì vị giáo sư thường được các em nhắc đến đầu tiên là “Cô SÂM” dậy Sử Địa, bởi vì tuy cô còn trẻ, còn độc thân, chỉ là vai chị của các em học sinh, nhưng cô có một tấm lòng, một tình thương của một người mẹ hiền.

“Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba là học trò LPK”, tuổi 11, 12, thì biết sợ là gì đâu, cứ nghịch cứ phá nhưng khi nghe tiếng thước kẻ gõ cạch-cạch trên bàn, ngước lên thấy cô mỉm cười là đám giặc im phăng phắc, lúc đó thấy cô đẹp và dễ thương làm sao! Nay tuy đã bước vào tuổi “cổ lai y” mà nhớ về kỷ niệm xưa em vẫn cảm thấy nhỏ bé trước hinh ảnh của cô và cô là hiền mẫu của em lúc này. Hiện cô là người cõi trên, thấy hết, biết hết thì sao em dám nói dối cô được.

Có một lần thằng quỷ sứ Nguyễn Xuân Thanh ngồi bàn sau, nó lấy giấy cuộn lại rồi gài vào lưng quần em rồi quẹt diêm (quẹt) đốt, giật mình nóng quá em nhẩy lên bàn rồi kêu chí chóe, sợ muốn khóc, cô xuống lấy tay cốc-cốc nhẹ vảo đầu thằng Thanh rồi cô vỗ vỗ vai em để an ủi em nhưng em vẫn tức, đánhg lẽ cô phải tát tai, vả miệng cho xưng môi nó lên chứ, sao chỉ cốc-cốc nhè nhẹ thôi" Lúc đó em nghĩ hay là cô cũng kỳ thị Bắc Nam, cô bênh thằng Nam Kỳ con Xuân Thanh còn cô không thương thằng nhóc tì Bắc Kỳ di cư 1954 là em, sau dần dà rồi em mới hiểu cô thương tất cả, tất cà cùng là con, là gà cũng một mẹ Sâm Sử Địa.

Cô không biết chứ lúc đó em khổ lắm, sợ tụi bạn cùng lớp Nam Kỳ lắm, vì chỉ một mình em là Bắc Kỳ di cư, còn dư lại là dân Nam Kỳ quốc, em bị mặc sức làm bù nhìn cho chúng trêu chọc, em giận lắm nhưng đành nhịn rồi nhớ ghi xương khắc cốt từng tên để sau này trả thù, người quân tử 20 năm sau trả thù chưa muộn, nhưng rất tiếc là 20 năm sau, một số bọn chúng đã trở thành người “quân tử”, đám còn lại thì gặp nhau trên chiến trường còn vương khói súng thì ôm nhau cười, chỉ tay về phía trước, “kẻ thù của tao ở đằng kia, còn tao và mày là anh em là con của Cô Sâm Sử-Địa”.

Hỡi nhưng tên “quỷ ma học trò Đệ Thất B1 55-56 là Cao Hoàng Anh, Đặng Văn Ba, Ngô Văn Bê, Bửu, Cảnh, Cần, Cẩn, Chí, Chí, Chiểu, Dương, Đạt, Điện, Đởm, Đức, Hiếu, Hòa, Hoàng, Huệ, Hưng, Khoa-Lé, Khải, Khiết, Khôi, Kỵ-Chột Phạm Huỳnh Tam-Lang, Long-Trên, Long-Dưới Thanh, Tư Xe Bò, Tư Tù-Ti v.v..tụi bay ở đâu" Những thằng đã là “quân tử” thì đến gõ cửa nhà trời thăm cô, nhựng tên còn nặng nợ trần gian, dù hiện ở trong nước hay tỵ nạn hải ngoại thì báo tụi bay biết để dâng lên cô 3 nén nhang, xin cô thương tha lổi cho chúng em và phù hộ cho các cựu học sinh LPKY cùng đệ đơn lên Thiên Quốc để đòi lại cái giấy khai sinh cho trường mẹ, trưởng Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký.

Little Saigon 12 giờ đêm 29/10/2011.

Em vừa dâng lên Cô 3 nén nhang xong.

LPK 55-62 Captovan

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.