Hôm nay,  

Cô Sâm

01/11/201100:00:00(Xem: 8782)

Cô Sâm

LPK 55-62 Captovan

Kính thưa cô.

Nghe tin anh Sơn, một học cựu học sinh L. Petrus Ký, học trò của cô, vừa về thăm quê hương và đến thăm cô nhưng đã trễ, chỉ được thắp nhang trước bàn thờ của cô, bản tin ngắn ngủi này đến với em vào chiều tối Thứ Bẩy 29 tháng 11 năm 2011 đã khiến em ngưng tất cả mọi công việc để nhớ về cô, để chọn màu mực xanh viết về cô ở tuổi thanh xuân và em mới chỉ là một học trò lớp Đệ Thất của cô.

Thưa cô! Đã 56 năm rồi, hơn nửa đời người, trải qua biết bao thăng trầm từ một học sinh rời trường L.Petrus Ký rồi vào Võ Bị, 13 năm lính, 10 năm tù cải tạo, hơn 20 năm lao đao lận đận tỵ nạn xứ người, nay được biết tin cô đã quy tiên em bỗng cảm thấy một nỗi buổn man mác. Em thú thật với cô là không chảy nước mắt khi nghe tin cô mất, nhưng nếu em nói dối là có khóc như năm xưa đã nói dối cô khi không thuộc bài là cô biết ngay em nói láo, lửa thầy, làm sao có thể nói dối được với ngưởi đã khuất. Nhưng chắc ở chốn bình yên nào đó cô đang chứng giám lòng thành của cậu trò nhỏ năm xưa đang nghĩ nhiều về cô, nhớ và viết những kỷ niệm về cô.

Nếu có ai hỏi họ của cô là gì thì em quên rồi mà chỉ nhớ tên cô là Sâm, cô Sâm dậy môn Sử Địa lớp Đệ Thất niên khóa 55-56, và nhà của cô ở khu cư xá giáo sư phía sau trường, gần phía đường Nguyễn Hoàng, em biết được điều đó là do những lẩn tập thể dục với thầy Bích ở sân vận động thì thấy cô đi về hướng đó chứ em đâu có học giỏi để được cô sai ôm tập đem theo về nhà để cô chấm bài. Em cũng nhớ các cô Dung, cô Hồng, cô Ngà v.v.. và thầy toán hình học Nguyễn Văn Binh, thầy Pháp Văn Phạn Văn Ba, thầy Đảnh, thầy Đính lý hóa, thẫy Võ Trọng Phỏng, thầy Đồ và thầy Thái dậy Anh Văn, thầy Tạ Ký, thầy Thái Chí, thầy Trần Thượng Thủ tức thầy TTT mà thầy thường khôi hài là trong túi thầy lúc nào cũng có cái lược v.v.. Nhưng mỗi khi gặp bạn cùng lớp, nhắc về thầy cũ trường xưa thì vị giáo sư thường được các em nhắc đến đầu tiên là “Cô SÂM” dậy Sử Địa, bởi vì tuy cô còn trẻ, còn độc thân, chỉ là vai chị của các em học sinh, nhưng cô có một tấm lòng, một tình thương của một người mẹ hiền.

“Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba là học trò LPK”, tuổi 11, 12, thì biết sợ là gì đâu, cứ nghịch cứ phá nhưng khi nghe tiếng thước kẻ gõ cạch-cạch trên bàn, ngước lên thấy cô mỉm cười là đám giặc im phăng phắc, lúc đó thấy cô đẹp và dễ thương làm sao! Nay tuy đã bước vào tuổi “cổ lai y” mà nhớ về kỷ niệm xưa em vẫn cảm thấy nhỏ bé trước hinh ảnh của cô và cô là hiền mẫu của em lúc này. Hiện cô là người cõi trên, thấy hết, biết hết thì sao em dám nói dối cô được.

Có một lần thằng quỷ sứ Nguyễn Xuân Thanh ngồi bàn sau, nó lấy giấy cuộn lại rồi gài vào lưng quần em rồi quẹt diêm (quẹt) đốt, giật mình nóng quá em nhẩy lên bàn rồi kêu chí chóe, sợ muốn khóc, cô xuống lấy tay cốc-cốc nhẹ vảo đầu thằng Thanh rồi cô vỗ vỗ vai em để an ủi em nhưng em vẫn tức, đánhg lẽ cô phải tát tai, vả miệng cho xưng môi nó lên chứ, sao chỉ cốc-cốc nhè nhẹ thôi" Lúc đó em nghĩ hay là cô cũng kỳ thị Bắc Nam, cô bênh thằng Nam Kỳ con Xuân Thanh còn cô không thương thằng nhóc tì Bắc Kỳ di cư 1954 là em, sau dần dà rồi em mới hiểu cô thương tất cả, tất cà cùng là con, là gà cũng một mẹ Sâm Sử Địa.

Cô không biết chứ lúc đó em khổ lắm, sợ tụi bạn cùng lớp Nam Kỳ lắm, vì chỉ một mình em là Bắc Kỳ di cư, còn dư lại là dân Nam Kỳ quốc, em bị mặc sức làm bù nhìn cho chúng trêu chọc, em giận lắm nhưng đành nhịn rồi nhớ ghi xương khắc cốt từng tên để sau này trả thù, người quân tử 20 năm sau trả thù chưa muộn, nhưng rất tiếc là 20 năm sau, một số bọn chúng đã trở thành người “quân tử”, đám còn lại thì gặp nhau trên chiến trường còn vương khói súng thì ôm nhau cười, chỉ tay về phía trước, “kẻ thù của tao ở đằng kia, còn tao và mày là anh em là con của Cô Sâm Sử-Địa”.

Hỡi nhưng tên “quỷ ma học trò Đệ Thất B1 55-56 là Cao Hoàng Anh, Đặng Văn Ba, Ngô Văn Bê, Bửu, Cảnh, Cần, Cẩn, Chí, Chí, Chiểu, Dương, Đạt, Điện, Đởm, Đức, Hiếu, Hòa, Hoàng, Huệ, Hưng, Khoa-Lé, Khải, Khiết, Khôi, Kỵ-Chột Phạm Huỳnh Tam-Lang, Long-Trên, Long-Dưới Thanh, Tư Xe Bò, Tư Tù-Ti v.v..tụi bay ở đâu" Những thằng đã là “quân tử” thì đến gõ cửa nhà trời thăm cô, nhựng tên còn nặng nợ trần gian, dù hiện ở trong nước hay tỵ nạn hải ngoại thì báo tụi bay biết để dâng lên cô 3 nén nhang, xin cô thương tha lổi cho chúng em và phù hộ cho các cựu học sinh LPKY cùng đệ đơn lên Thiên Quốc để đòi lại cái giấy khai sinh cho trường mẹ, trưởng Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký.

Little Saigon 12 giờ đêm 29/10/2011.

Em vừa dâng lên Cô 3 nén nhang xong.

LPK 55-62 Captovan

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 2013, khi Tập Cận Bình nắm giữ hai chức vụ cao nhất trong đảng và chính quyền, với tham vọng lớn lao khi vạch ra cái bẫy “Nhất Đới Nhất Lộ”, nhằm thôn tính, quy về một mối từ kinh tế lẫn chính trị. Trung Quốc bỏ ra hàng nghìn tỷ Mỹ kim để ve vản, hối lộ quan chức thẩm quyền của các nước đồng lõa ký kết những dự án xây dựng. Bị sa vào bẫy nợ bao nhiêu, bị lệ thuộc vào Trung Cộng bấy nhiêu, từ thuê mướn trở thành đặc khu (lãnh địa của Trung Quốc) với 99 năm.
Vấn đề kỳ thị chủng tộc là chuyện rất bình thường ở đâu cũng có hết. Là người Việt sống tại hải ngoại chúng ta cũng không thể thoát ra khỏi vấn đề nầy. Tuy nhiên sự kỳ thị có ảnh hưởng nhiều hay ít đến nạn nhân hay không cũng còn tùy thuộc một phần lớn vào thái độ và cách suy nghĩ của mỗi người.
Vài năm vừa qua, giới quan sát quốc tế và quốc nội Hoa Kỳ đều nhận ra một điều là chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc ngày nay có xu hướng thiên về mặt cứng rắn hơn. Hầu hết các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đều có một ý nghĩ chung là phải áp dụng một chính sách mới hầu giảm thiểu hoặc chí ít hạn chế tính cách hung hăng càng ngày càng trở nên rõ rệt của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) dưới quyền lãnh đạo của lãnh tụ tối cao, Chủ tịch nhà nước kiêm Tổng Bí thư Tập Cận Bình. Tình trạng căng thẳng giữa hai siêu cường, cộng thêm áp lực do trận đại dịch Covid-19 và kinh tế suy thoái, rất có thể sẽ khiến cái bề mặt tưởng chắc chắn như tường đồng vách sắt của Tập và Bắc Kinh có cơ rạn nứt.
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.