Hôm nay,  

Lửa Nối Nhau Chẳng Tắt

12/01/201200:00:00(Xem: 9623)
Lửa Nối Nhau Chẳng Tắt

Nguyệt Quỳnh
Nhưng lửa của tình yêu khi tức giận
Sẽ ra tro mọi lồng cũi mọi ngai vàng
Và những tên bạo chúa khôn ngoan
Hết ảo tưởng thôi van xin chờ đợi
Lửa sẽ bừng lên tự soi sáng cho mình
(Mấy đoạn thơ về lửa-Lưu Quang Vũ)
Những câu thơ trên dường như diễn tả đúng nhất tâm tình và hình ảnh những ngọn đuốc sống của các nhà sư Tây Tạng. Người ta nghe thấy những tiếng hô dõng dạc của họ hoà vào trong ngọn lửa: “Tự do cho dân tộc Tây Tạng!”; “Trung Quốc hãy chấm dứt đàn áp dân Tây Tạng…” Ngọn lửa đầu tiên bùng lên là ngọn lửa của vị sư trẻ mới 21 tuổi.
Mặc đù đối với giáo lý phật giáo, sự sống của con người, của muôn vật đáng quí vô cùng. Sự tự thiêu hàng loạt của các nhà sư này chứng tỏ điều họ cần còn đáng quí hơn chính cả mạng sống của họ. Và như những câu thơ của Lưu Quang Vũ: “Phút đốt cháy là phút nảy mầm, con người trao lửa cho nhau, từ những lồng ngực tròn căng…” Tất cả đều còn rất trẻ, vị sư đầu tiên tự thiêu vào đầu tháng ba năm 2011. Kế đến tại tỉnh Tứ Xuyên, sư Tsewang Norbu 29 tuổi, với quyết tâm không để ai cứu chữa, vị sư này đã uống xăng rồi mới tẩm xăng bên ngoài và tự mình châm lửa đốt. Những cuộc tự thiêu như thế cứ tăng nhanh dần, người thứ chín là một ni cô mới tròn 20 tuổi tại thành phố Aba, người thứ 12 là sư Dawa Tsering 38 tuổi từ tu viện Ganzi. Đây là những hy sinh vô cùng cao quí nhưng cũng cho thấy sự vô cùng tuyệt vọng của những người bị trị dưới bàn tay đẫm máu từ Bắc Kinh, đặc biệt từ thời Hồ Cẩm Đào nắm chức Bí thư Tỉnh ủy Tây Tạng. Chính nhờ công “bình ổn” Tây Tạng đó mà họ Hồ được Đặng Tiểu Bình gọi về thủ đô để chuẩn bị cho lên ngôi “bình ổn” toàn nước Tàu.
Ngài Karmapa, vị sư cao cấp của Phật Giáo Tây Tạng, người thân cận với Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng: “Mỗi bản tin về tự thiêu từ Tây Tạng gửi ra làm tràn ngập tim tôi những đau đớn”. Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng cũng không tán đồng việc tự thiêu này. Ngài nói với đài BBC trong một cuộc phỏng vấn rằng những hành động như vậy đòi hỏi sự dũng cảm rất nhiều nhưng mang lại rất ít hiệu quả vì Trung Quốc càng đàn áp mạnh hơn. Ngài nói rằng chỉ có “dũng” sẽ không đủ và người Tây Tạng cần phải dùng “trí” nữa. Nhưng ngài cũng cho rằng dưới chính sách cai trị “diệt chủng văn hóa” khắc nghiệt của nhà cầm quyền Trung Quốc, người dân Tây Tạng đã phải dùng phương pháp này chỉ vì tuyệt vọng.
Nét đặc thù văn hoá của dân tộc hiền hoà này được thế giới biết đến qua những bức tranh cát tuyệt hảo Mandala. Các nhà sư Tây Tạng đã bỏ hàng giờ có khi lên đến hàng tuần để hoàn tất một bức tranh cát. Nhưng ngay sau khi hoàn thành, họ lại xoá sạch ngay những bức tranh ấy. Sự xoá sạch những công trình này để thuyết phục người xem về bản chất vô thường của muôn sự vật trên thế gian này, dù có sặc sỡ, hoành tráng đến đâu đi nữa. Các tín đồ phật giáo Tây Tạng tự coi bản thân họ là một Mandala, vạn vật, kể cả chính họ là một vị Phật tiềm năng. Sau khi xoá, cát trong tranh được gom lại đựng vào trong một cái bình và được mang đến một dòng sông. Họ đổ cát ấy xuống dòng sông để sông mang cát ra đại dương, mang đi khắp thế giới hầu mong mang lại hòa bình và sự hài hòa cho cả hành tinh con người.
Hàng loạt các vụ tự thiêu của những con người nhân ái ấy đã làm rung động trái tim thế giới. Thế nhưng Trung Quốc lại gọi những hành động này là một loại “khủng bố”. Trong khi đó, các trò man rợ của công an đối với dân chúng Tây Tạng, đặc biệt là đối với thân thể các ni cô trong ngục tù, lại được ca tụng là công trạng bình ổn xã hội.

(Cách hành xử ngược ngạo này làm người ta nhớ tới cảnh những kẻ bán nước tống người yêu nước vào “cơ sở giáo dục” tại Việt Nam hiện nay; hoặc cảnh những nhóm công an thường phục và đầu gấu khủng bố thật các giáo dân, thậm chí ném mìn vào nhà Nguyện, thì được khen thưởng và trả tiền, trong lúc các nhóm công an sắc phục đốt hàng tỷ đồng để thu hình tập trận phòng chống khủng bố tưởng tượng).
Cũng có người đặt câu hỏi: tại sao ở Tunisia chỉ một vụ tự thiêu đã khiến toàn dân đứng dậy, trong khi tại Tây Tạng đã có đến 12 vụ tự thiêu mà ngọn lửa cách mạng vẫn không bùng lên được? Sự kiện này có thể nói bắt nguồn từ hai lý do chính. Lý do thứ nhất là đất nước Tây Tạng còn bị công an Trung Quốc xiềng xích quá chặt. Và cùng với công an là con số dân chúng người Hán được đưa qua để thực hiện chính sách đồng hoá. Số dân Hán này hợp tác chặt chẽ với công an để bảo vệ quyền lợi của chính họ. Do đó, cần phải có những bước giữa để nong rộng bớt vòng xích hiện nay trước đã, qua các hành động bất bạo động. Lý do thứ hai, tuy cách thức tự thiêu, dù cao quí, vẫn rất khó thành công vì số đông người Tây Tạng không thể bắt chước được. Yếu tố số đông khó có thể đạt được qua cách thức này, trong khi các cuộc cách mạng thành công tại Á Rập đã chứng minh vũ khí chiến lược này để đối đầu với một chế độ độc tài. Người dân tay không cần những cách thức dễ hơn để kết thành số đông.
Chuyện Tây Tạng cũng nhắc dân tộc Việt về số phận tương lai của mình nếu tiếp tục con đường hiện tại. Ngày Việt Nam trở thành một Tây Tạng thứ hai không còn là một dự đoán. Tai họa ấy đang diễn ra trong tiệm tiến và hòa bình. Đây mới là thứ “diễn biến hòa bình” đúng nghĩa! Nhìn về lãnh thổ, Trung Quốc đã lấy gọn Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc và nhiều vùng đất dọc theo biên giới, chưa kể các vùng rừng cho không dưới danh nghĩa “cho mướn nửa thế kỷ”; Hoàng Sa, Trường Sa và cả vùng biển chung quanh 2 quần đảo này đã trở thành “sân sau” của Bắc Kinh. Bên cạnh đó, mượn tiếng khai thác bôxít tại Tây Nguyên họ đã đưa hàng ngàn người Trung Quốc lên “nóc nhà của Đông Dương”. Hàng trăm các hãng thầu Trung Quốc với hàng trăm ngàn người Hoa lập các khu riêng với bảng hiệu, tiền tệ mua bán, và sinh hoạt như đang sống tại Tàu. Thế vẫn chưa đủ, lãnh đạo Hà Nội còn cho xây hẳn những vùng chuyên biệt của người Hoa trên khắp các tỉnh, từ Nam chí Bắc. Hình ảnh lá cờ sáu sao trên tay các em bé Việt Nam khi đón Tập Cận Bình là hình tượng rõ nét nhất về một đất nước Việt Nam tương lai mà Bắc Kinh muốn nhìn thấy và Hà Nội đã vâng chịu.
Cái vòng kim cô của Trung Quốc đã nằm sẵn trên đầu nhưng kẻ lãnh đạo đất nước Việt Nam. Những ngày cuối năm, bản tin về các bản án tù dành cho người yêu nước cứ dồn dập, các thanh niên công giáo đã bị bắt cóc và đang bị bắt cóc mỗi ngày. Muốn hay không muốn thì bóng đêm đen tối của đất nước cũng đang đến gần. Điều khác thường xảy ra chỉ có thể được quyết định bằng chính sự dũng cảm của dân tộc Việt Nam. Chúng ta có đem được một mùa xuân đích thực cho quê mẹ như dân tộc Tunisia, Ai Cập hay không là chọn lựa của chính chúng ta. Và phương thức đấu tranh xem ra khả thi và hữu hiệu nhất ở giai đoạn này vẫn là phương pháp đấu tranh bất bạo động. Đã có rất nhiều dân tộc chọn phương thức đấu tranh này, đặc biệt trong suốt nửa thế kỷ qua, và đã thành công.
Những ngọn lửa tự thiêu ở Tây Tạng làm tôi chợt nhớ đến Lưu Quang Vũ. Anh là một nhà thơ, nhà viết kịch tài hoa. Anh đã thắp lên ngọn lửa của chính mình ngay từ thập niên tám mươi của thế kỷ trước. Tôi yêu vô cùng ngọn lửa của Lưu Quang Vũ — ngọn lửa không phải được đốt lên từ thân xác mà từ hành động. Ngọn lửa đó dường như đã được chuyển trao từ bao thế hệ cha ông:
“Nhân dân có gì giống lửa phải không anh.
Gió bão ngàn đời vẫn nối nhau chẳng tắt…”

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.