Hôm nay,  

Bệnh Thắng Cuộc

12/01/201300:00:00(Xem: 9216)
“The only good communist is a DEAD communist.” (Cold War Quote)

“Bên nào thắng cuộc?”

Một cuộc chiến tranh, theo đúng nghĩa, chỉ được xem là thực sự chấm dứt, có bên thắng và bên thua khi một bên không còn đánh (fight) được nữa; hay ít ra những nỗ lực, những cố gắng tiếp tục đánh của một bên hoàn toàn không còn nữa (no longer exists).

Trong cuộc chiến chống cộng ở Việt Nam, mặc dù về mặt quân sự tiếng súng đã im từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhưng các nỗ lực chiến đấu của người Quốc gia trên nhiều địa bàn phi quân sự khác như chính trị, ngoại giao, văn hóa, kinh tế… không (chưa) hề có một dấu hiệu nào để khả dĩ gọi là đã “ngừng” lại. Thực tế, sự chiến đấu phi quân sự liên tục này của phe Quốc gia mỗi lúc thấy càng mạnh mẽ, qui mô, công khai hơn là đàng khác.

Tôi xin kể ra ở đây một vài thí dụ thắng-bại điển hình. Công luận thế giới đồng ý là năm 1945, đồng minh đã thắng Nhật và Đức quốc xã trong trận thế chiến thứ 2 bởi vì Nhật và Đức ngoài việc buông súng đầu hàng, đồng loạt ngừng tất cả những hình thức chống đối, bên thua cuộc, dân Nhật và dân Đức, còn sáng suốt, can đảm xin hợp tác và đón nhận sự giúp đỡ của bên thắng cuộc trong công cuộc canh tân đất nước họ từ đống tro tàn thành đại cường quốc. Kế đến, Bắc quân Mỹ thắng Nam quân trận nội chiến 1861-1865. Cuộc nội chiến đẫm máu đã làm cho hơn 750 ngàn lính của 2 phe bị chết, kết thúc bởi tướng Robert Lee của Nam quân chính thức đầu hàng tướng Ulysses Grant của Bắc quân vào ngày 9 tháng 4 năm 1865. Sự chiến thắng của Bắc quân trong cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ này cũng cũng có thể so sánh với sự chiến thắng của quân đội đồng minh năm 1945. Bên thắng cuộc và bên thua cuộc đã được nhận diện rõ ràng. Sau các trận chiến, thế giới văn minh không hề có các đòn thù man rợ áp dụng cho bên thua cuộc.

Trường hợp chiến tranh Quốc-Cộng ở Việt Nam thì hoàn toàn khác hẳn. Tiếng súng đã ngưng 37 năm, nhưng sự chiến đấu của phe VNCH vẫn mỗi ngày mỗi mạnh mẽ thêm làm cho phe cs mặc dù đã vội vàng tự nhận mình là “bên thắng cuộc” phải lo sốt vó… Một ngày rất gần, đám lãnh đạo csvn sẽ lại phải theo chân Thoát Hoan tìm ống đồng để chui; hoặc Gaddafi tìm một ống cống để kết thúc cuộc đời một cách nhục nhã…

“Giải phóng cái gì?”

Động từ “Giải phóng” theo tự điển tiếng Việt phổ thông có nghĩa là:

1- Làm cho được tự do, cho thoát khỏi tình trạng bị nô dịch, chiếm đóng.

Thí dụ: Giải phóng thủ đô. Đất nước được hoàn toàn giải phóng.

2- Làm cho được tự do, cho thoát khỏi địa vị nô lệ hoặc tình trạng bị áp bức, kiềm chế, ràng buộc.

Thí dụ: Giải phóng nô lệ.

Từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, cs đã làm thay đổi ý nghĩa của hai chữ “giải phóng.” (và còn nhiều chữ khác mà cs gần như dành lấy làm của riêng như “nhân dân,” “tổ quốc.” “nhà nước, “ cán bộ,” “công an…”) Cs lạm dụng, “hấp diêm,” biến chữ “giải phóng” trở thành các nghịch lý trơ trẽn, hoàn toàn trống rỗng vô nghĩa. Thành ra khi nghe cs nói phải trái về vấn đề gì, chúng ta chỉ cần suy nghĩ ngược lại 180 độ là có phần đúng đến 99 phần trăm…

Ngay trong lời giới thiệu của cuốn sách “Bên thắng cuộc,” ông Huy Đức đã viết:

“Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975, ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc.”

Như vậy 3 chữ “Bên thắng cuộc” đã có hàm ý một sự mâu thuẫn, một sự mỉa mai: nói vậy mà không phải như vậy đâu. Hãy mở mắt ra là vừa, nếu đã bị đóng kín từ trước tới giờ..

Năm 1954, kết quả cs giải phóng miền Bắc là một triệu người miền Bắc phải di cư và miền Nam để tránh nạn cộng sản. Năm 1975, kết quả giải phóng miền Nam là có gần 3 triệu người dân Việt phải bỏ nước đi tị nạn cộng sản ở các nước trên thế giới, bất kể là nước nào… Các cuộc bỏ phiếu bằng chân vĩ đại này đã là bằng chứng sống giải thích rất thỏa đáng chữ “giải phóng” lập lờ của cs.

Cs chỉ dùng đúng nghĩa của chữ “giải phóng” khi cs đã tàn nhẫn “giải phóng” bao nhiêu sinh mạng đồng chủng chỉ vì họ không đồng ý hoặc ít ra không có ý kiến gì về cái thuyết khát máu cs.

Nhìn lại lịch sử Việt Nam cận đại, trong công cuộc tàn hại vô bờ bến gọi là “giải phóng,” cs đã “cướp” đi những con người giỏi nhất, lương thiện nhất, dũng cảm nhất của đất nước. Công cuộc “giải phóng” của cs đã làm cho cả một dân tộc bị bại trận chứ không phải chỉ riêng dân miền Nam và vài ba triệu dân tị nạn cs.

“Đánh Mỹ cứu nước nào?”

Mỹ không hề chính thức công nhận là họ thua ở Việt Nam. Theo họ, trong bàn cờ lớn thế giới, Mỹ chỉ bỏ một cuộc chiến mà họ thấy không còn cần thiết nữa. Trên phương diện quân sự, bên thua trận phải lâm vào một hay cả 2 trường hợp sau: Một là quân đội phải tan rã; Hai là không còn đủ khả năng để tài trợ (funding) cho một lực lượng quân sự chống đối. Cả hai lý do này đều hoàn toàn không áp dụng được cho Hoa kỳ. Hoa kỳ vẫn có một lực lượng quân sự lớn mạnh nhất hoàn cầu và họ thừa khả năng viện trợ quân sự cho nhiều nước, nhiều mặt trận khác nhau cùng một lúc trên thế giới như Nam hàn, Ai cập, Iraq, Pakistan, Afghanistan…

Nhìn lại “bên thắng cuộc” vi-xi hôm nay. Vi-xi mỗi ngày càng tỏ vẻ mà chẳng cần dấu diếm úp mở là cs muốn đến gần Mỹ hơn là Mỹ muốn đến gần vi-xi. Mặt khác, Mỹ lại càng làm tàng, cóc thèm đếm xỉa gì đến anh vi-xi trông rất xấu xí, buồn cười, đang “nhiệt liệt” tự sướng 24/7 cả ngày lẫn đêm. Đến giờ phút đang tụt hậu thê thảm hôm nay - đứng sau Singapore 97 năm - mà vẫn còn ráng ra rả “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam anh hùng” thì người nước ngoài họ tưởng cs bị khùng.

Nhìn lại lịch sử toàn cầu từ thế chiến thứ 2 đến nay xem Mỹ có chiếm lấy một tấc đất nào của các quốc gia trên thế giới mà họ đặt chân đến hay không mà cs bảo “nhân dân” phải hy sinh tận mạng chống giặc Mỹ cướp nước? Trong khi Trung cộng chưa kịp cướp thì csvn đã kính cẩn dâng đất, biển, đảo rồi còn lấy đâu ra mà cứu lước? Lê Duẩn đã từng công khai tuyên bố là “đánh Mỹ là đánh cho Liên sô và Trung quốc.” Còn việc “cứu nước” là chỉ một sự lừa phỉnh lất thúng úp voi. Bây giờ không còn có Mỹ để đành vậy mà nước vẫn còn tệ hơn bao giờ hết… không cứu vãn được. Cứu làm sao được khi tập đoàn cs vẫn còn “cướp” chính quyền.

Thật buồn, thật khó hiểu khi thấy cả một dân tộc cứ tiếp tục oằn oại chấp nhận một chính sách cai trị cs man rợ, dốt nát, ngang ngược, lếu láo. Có lẽ theo chu kỳ tuần hoàn của trời đất, vận nước chắc đã đến lúc phải thật mạt rồi mới lại ngóc lên được.

Tóm lại, bàn ra tán vào mãi về cuốn sách “Bên thắng cuộc” cũng chẳng tìm được ra cái giải rút gì. Sau bao năm “giải phóng,” “Bên thắng cuộc” với những chính sách từ “đổi mới” đến kinh tế thị trường định hướng XHCN…” vẫn chưa tạo được một tiến bộ, một xây dựng nào cho cuộc sống của người dân nghèo – cs không ngượng mồm gọi họ là “thành đồng cách mạng” - Những cái chúng ta nhìn thấy hôm nay chỉ là sự sa sút tột bực của giáo dục, văn hóa, xã hội, kinh tế… trong ước.

Tôi đề nghị là tựa cuốn sách nên được đổi thành “Bên thua cuộc” để các cụ không thích nó có lỡ phải vất vào thùng rác thì cũng đỡ làm bẩn cái thùng rác. Tôi cũng không hoàn toàn đồng ý với cái nhận định về cs ở thời chiến tranh lạnh (Cold War): “Chỉ có những tên cs chết rồi mới là cộng sản tốt.” (“The only good communist is a DEAD communist.”) bởi vì nói như vậy thì phải xem các trùm cs khát máu đã chết rồi như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Hồ Chí Minh. Lê Duẩn.. là người tốt hay sao? Theo như ý tôi, câu nói này nên sửa lại cho thích hợp là: “Dù sống hay chết, những tên cộng sản đều thối hoắc như nhau.” (No matter alive or dead, all communists stink).

Bây giờ, tôi xin mượn lời của một ông bạn thân của tôi để kết thúc bài này:

“Một khi đã là vi-xi thì sẽ mãi mãi muôn đời sẽ là vi-xi. Chớ vội vàng mà tin bọn vi-xi này. Thấy quan tài rồi hãy đổ lệ cũng không bao giờ muộn.”

Trần Văn Giang

Ngày 10 tháng 1 năm 2013.
____
Phụ chú:

1- Definition of liberation (In Oxford dictionary) noun [mass noun] The act of setting someone free from imprisonment, slavery, or oppression; release. Ex: The liberation of all political prisoners.

2- Definition of liberate (in Oxford Dictionary) verb [with object]

1set (someone) free from imprisonment, slavery, or oppression: the serfs had been liberated

free (a place or people) from enemy occupation: twelve months earlier Paris had been liberated

release (someone) from a situation which limits freedom of thought or behavior: she is liberated from the constraints of an unhappy marriage (as adjective liberating) the arts can have a liberating effect on people

free (someone) from social conventions, especially those concerned with accepted sexual roles: ways of working politically that liberate women

Origin: Late 16th century: from Latin liberat-“freed,” from the verb liberare, from liber'free.'

Ý kiến bạn đọc
13/01/201323:18:04
Khách
Cộng sản chân chính, cộng sản cẳng chính, cộng sản pê-đê, cộng sản ô môi... tất cả cs đều là con... tự do hết ráo. Đồng bào đã nghe tôi rõ chưa (You know what I mean)?
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
Kể từ năm 2019, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nhiều lần công khai bày tỏ mong muốn giành quyền kiểm soát Greenland, biến hòn đảo giàu tài nguyên và có vị trí chiến lược này trở thành một phần lãnh thổ của Hoa Kỳ...
Khi một chính đảng tự nhận là “đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân” nhưng lại phải bảo vệ ngày đại hội của mình bằng khí tài trấn áp bạo loạn, đó là lúc chúng ta cần nhìn thẳng vào sự rạn nứt sâu sắc giữa đảng Cộng Sản và nhân dân. Sự an ninh nghiêm ngặt này không phản ánh sức mạnh, mà thực chất là một lời thú nhận gián tiếp về sự yếu thế trong tính chính danh của đảng.
Nhắc lại Birmingham hôm nay không phải để tạc lại một pho tượng thánh thiện. King tự xem mình là một nhà hoạt động, sẵn sàng chấp nhận hiểm nguy, và kêu gọi người khác làm điều tương tự. Ông hiểu điều gì khiến xã hội chuyển động. Có những lúc, phải phơi bày cái sai trái trong ánh sáng gắt gao nhất thì lương tri mới thức tỉnh. Ngay cả Tổng thống John F. Kennedy khi ấy, nhìn tấm ảnh trên mặt báo, cũng thừa nhận: có lẽ chỉ bằng cách này, sự việc mới đi đến hồi kết.
Giữa thủ đô Washington, D.C., nơi mỗi ngày, dòng sông Potomac lặng lẽ soi bóng những lý tưởng cao đẹp của nước Mỹ, Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật John F. Kennedy (Kennedy Center) sừng sững như một biểu tượng của sự hợp nhất văn hóa và tự do nghệ thuật. Thế nhưng, vào Tháng Mười Hai năm 2025, di sản ấy đã đột ngột bị bẻ lái. Hội đồng quản trị của Kennedy Center do Donald Trump bổ nhiệm đã bỏ phiếu đổi tên thành "Trung tâm Tưởng Niệm Nghệ Thuật Biểu Diễn Donald J. Trump và John F. Kennedy.”
Tôi nghe tin ấy vào buổi sáng. Tin chưa kịp thành chữ trong đầu thì cơ thể đã vội phản ứng: tay lạnh ngắt, chân bủn rủn, tim đập dồn dập, như thể một bóng ma ký ức chôn sâu trong cơ bắp chợt bật nắp hòm ngồi dậy. Tôi phải ngồi yên hít thở thật sâu. Không nghĩ, không phân tích, nhưng rồi nhận ra trong cơn choáng váng, một phản xạ ký ức quen thuộc, rất cũ, tưởng đã bỏ lại ở một kiếp khác, trồi lên.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.