Hôm nay,  

Bệnh Thắng Cuộc

12/01/201300:00:00(Xem: 9293)
“The only good communist is a DEAD communist.” (Cold War Quote)

“Bên nào thắng cuộc?”

Một cuộc chiến tranh, theo đúng nghĩa, chỉ được xem là thực sự chấm dứt, có bên thắng và bên thua khi một bên không còn đánh (fight) được nữa; hay ít ra những nỗ lực, những cố gắng tiếp tục đánh của một bên hoàn toàn không còn nữa (no longer exists).

Trong cuộc chiến chống cộng ở Việt Nam, mặc dù về mặt quân sự tiếng súng đã im từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhưng các nỗ lực chiến đấu của người Quốc gia trên nhiều địa bàn phi quân sự khác như chính trị, ngoại giao, văn hóa, kinh tế… không (chưa) hề có một dấu hiệu nào để khả dĩ gọi là đã “ngừng” lại. Thực tế, sự chiến đấu phi quân sự liên tục này của phe Quốc gia mỗi lúc thấy càng mạnh mẽ, qui mô, công khai hơn là đàng khác.

Tôi xin kể ra ở đây một vài thí dụ thắng-bại điển hình. Công luận thế giới đồng ý là năm 1945, đồng minh đã thắng Nhật và Đức quốc xã trong trận thế chiến thứ 2 bởi vì Nhật và Đức ngoài việc buông súng đầu hàng, đồng loạt ngừng tất cả những hình thức chống đối, bên thua cuộc, dân Nhật và dân Đức, còn sáng suốt, can đảm xin hợp tác và đón nhận sự giúp đỡ của bên thắng cuộc trong công cuộc canh tân đất nước họ từ đống tro tàn thành đại cường quốc. Kế đến, Bắc quân Mỹ thắng Nam quân trận nội chiến 1861-1865. Cuộc nội chiến đẫm máu đã làm cho hơn 750 ngàn lính của 2 phe bị chết, kết thúc bởi tướng Robert Lee của Nam quân chính thức đầu hàng tướng Ulysses Grant của Bắc quân vào ngày 9 tháng 4 năm 1865. Sự chiến thắng của Bắc quân trong cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ này cũng cũng có thể so sánh với sự chiến thắng của quân đội đồng minh năm 1945. Bên thắng cuộc và bên thua cuộc đã được nhận diện rõ ràng. Sau các trận chiến, thế giới văn minh không hề có các đòn thù man rợ áp dụng cho bên thua cuộc.

Trường hợp chiến tranh Quốc-Cộng ở Việt Nam thì hoàn toàn khác hẳn. Tiếng súng đã ngưng 37 năm, nhưng sự chiến đấu của phe VNCH vẫn mỗi ngày mỗi mạnh mẽ thêm làm cho phe cs mặc dù đã vội vàng tự nhận mình là “bên thắng cuộc” phải lo sốt vó… Một ngày rất gần, đám lãnh đạo csvn sẽ lại phải theo chân Thoát Hoan tìm ống đồng để chui; hoặc Gaddafi tìm một ống cống để kết thúc cuộc đời một cách nhục nhã…

“Giải phóng cái gì?”

Động từ “Giải phóng” theo tự điển tiếng Việt phổ thông có nghĩa là:

1- Làm cho được tự do, cho thoát khỏi tình trạng bị nô dịch, chiếm đóng.

Thí dụ: Giải phóng thủ đô. Đất nước được hoàn toàn giải phóng.

2- Làm cho được tự do, cho thoát khỏi địa vị nô lệ hoặc tình trạng bị áp bức, kiềm chế, ràng buộc.

Thí dụ: Giải phóng nô lệ.

Từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, cs đã làm thay đổi ý nghĩa của hai chữ “giải phóng.” (và còn nhiều chữ khác mà cs gần như dành lấy làm của riêng như “nhân dân,” “tổ quốc.” “nhà nước, “ cán bộ,” “công an…”) Cs lạm dụng, “hấp diêm,” biến chữ “giải phóng” trở thành các nghịch lý trơ trẽn, hoàn toàn trống rỗng vô nghĩa. Thành ra khi nghe cs nói phải trái về vấn đề gì, chúng ta chỉ cần suy nghĩ ngược lại 180 độ là có phần đúng đến 99 phần trăm…

Ngay trong lời giới thiệu của cuốn sách “Bên thắng cuộc,” ông Huy Đức đã viết:

“Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975, ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc.”

Như vậy 3 chữ “Bên thắng cuộc” đã có hàm ý một sự mâu thuẫn, một sự mỉa mai: nói vậy mà không phải như vậy đâu. Hãy mở mắt ra là vừa, nếu đã bị đóng kín từ trước tới giờ..

Năm 1954, kết quả cs giải phóng miền Bắc là một triệu người miền Bắc phải di cư và miền Nam để tránh nạn cộng sản. Năm 1975, kết quả giải phóng miền Nam là có gần 3 triệu người dân Việt phải bỏ nước đi tị nạn cộng sản ở các nước trên thế giới, bất kể là nước nào… Các cuộc bỏ phiếu bằng chân vĩ đại này đã là bằng chứng sống giải thích rất thỏa đáng chữ “giải phóng” lập lờ của cs.

Cs chỉ dùng đúng nghĩa của chữ “giải phóng” khi cs đã tàn nhẫn “giải phóng” bao nhiêu sinh mạng đồng chủng chỉ vì họ không đồng ý hoặc ít ra không có ý kiến gì về cái thuyết khát máu cs.

Nhìn lại lịch sử Việt Nam cận đại, trong công cuộc tàn hại vô bờ bến gọi là “giải phóng,” cs đã “cướp” đi những con người giỏi nhất, lương thiện nhất, dũng cảm nhất của đất nước. Công cuộc “giải phóng” của cs đã làm cho cả một dân tộc bị bại trận chứ không phải chỉ riêng dân miền Nam và vài ba triệu dân tị nạn cs.

“Đánh Mỹ cứu nước nào?”

Mỹ không hề chính thức công nhận là họ thua ở Việt Nam. Theo họ, trong bàn cờ lớn thế giới, Mỹ chỉ bỏ một cuộc chiến mà họ thấy không còn cần thiết nữa. Trên phương diện quân sự, bên thua trận phải lâm vào một hay cả 2 trường hợp sau: Một là quân đội phải tan rã; Hai là không còn đủ khả năng để tài trợ (funding) cho một lực lượng quân sự chống đối. Cả hai lý do này đều hoàn toàn không áp dụng được cho Hoa kỳ. Hoa kỳ vẫn có một lực lượng quân sự lớn mạnh nhất hoàn cầu và họ thừa khả năng viện trợ quân sự cho nhiều nước, nhiều mặt trận khác nhau cùng một lúc trên thế giới như Nam hàn, Ai cập, Iraq, Pakistan, Afghanistan…

Nhìn lại “bên thắng cuộc” vi-xi hôm nay. Vi-xi mỗi ngày càng tỏ vẻ mà chẳng cần dấu diếm úp mở là cs muốn đến gần Mỹ hơn là Mỹ muốn đến gần vi-xi. Mặt khác, Mỹ lại càng làm tàng, cóc thèm đếm xỉa gì đến anh vi-xi trông rất xấu xí, buồn cười, đang “nhiệt liệt” tự sướng 24/7 cả ngày lẫn đêm. Đến giờ phút đang tụt hậu thê thảm hôm nay - đứng sau Singapore 97 năm - mà vẫn còn ráng ra rả “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam anh hùng” thì người nước ngoài họ tưởng cs bị khùng.

Nhìn lại lịch sử toàn cầu từ thế chiến thứ 2 đến nay xem Mỹ có chiếm lấy một tấc đất nào của các quốc gia trên thế giới mà họ đặt chân đến hay không mà cs bảo “nhân dân” phải hy sinh tận mạng chống giặc Mỹ cướp nước? Trong khi Trung cộng chưa kịp cướp thì csvn đã kính cẩn dâng đất, biển, đảo rồi còn lấy đâu ra mà cứu lước? Lê Duẩn đã từng công khai tuyên bố là “đánh Mỹ là đánh cho Liên sô và Trung quốc.” Còn việc “cứu nước” là chỉ một sự lừa phỉnh lất thúng úp voi. Bây giờ không còn có Mỹ để đành vậy mà nước vẫn còn tệ hơn bao giờ hết… không cứu vãn được. Cứu làm sao được khi tập đoàn cs vẫn còn “cướp” chính quyền.

Thật buồn, thật khó hiểu khi thấy cả một dân tộc cứ tiếp tục oằn oại chấp nhận một chính sách cai trị cs man rợ, dốt nát, ngang ngược, lếu láo. Có lẽ theo chu kỳ tuần hoàn của trời đất, vận nước chắc đã đến lúc phải thật mạt rồi mới lại ngóc lên được.

Tóm lại, bàn ra tán vào mãi về cuốn sách “Bên thắng cuộc” cũng chẳng tìm được ra cái giải rút gì. Sau bao năm “giải phóng,” “Bên thắng cuộc” với những chính sách từ “đổi mới” đến kinh tế thị trường định hướng XHCN…” vẫn chưa tạo được một tiến bộ, một xây dựng nào cho cuộc sống của người dân nghèo – cs không ngượng mồm gọi họ là “thành đồng cách mạng” - Những cái chúng ta nhìn thấy hôm nay chỉ là sự sa sút tột bực của giáo dục, văn hóa, xã hội, kinh tế… trong ước.

Tôi đề nghị là tựa cuốn sách nên được đổi thành “Bên thua cuộc” để các cụ không thích nó có lỡ phải vất vào thùng rác thì cũng đỡ làm bẩn cái thùng rác. Tôi cũng không hoàn toàn đồng ý với cái nhận định về cs ở thời chiến tranh lạnh (Cold War): “Chỉ có những tên cs chết rồi mới là cộng sản tốt.” (“The only good communist is a DEAD communist.”) bởi vì nói như vậy thì phải xem các trùm cs khát máu đã chết rồi như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Hồ Chí Minh. Lê Duẩn.. là người tốt hay sao? Theo như ý tôi, câu nói này nên sửa lại cho thích hợp là: “Dù sống hay chết, những tên cộng sản đều thối hoắc như nhau.” (No matter alive or dead, all communists stink).

Bây giờ, tôi xin mượn lời của một ông bạn thân của tôi để kết thúc bài này:

“Một khi đã là vi-xi thì sẽ mãi mãi muôn đời sẽ là vi-xi. Chớ vội vàng mà tin bọn vi-xi này. Thấy quan tài rồi hãy đổ lệ cũng không bao giờ muộn.”

Trần Văn Giang

Ngày 10 tháng 1 năm 2013.
____
Phụ chú:

1- Definition of liberation (In Oxford dictionary) noun [mass noun] The act of setting someone free from imprisonment, slavery, or oppression; release. Ex: The liberation of all political prisoners.

2- Definition of liberate (in Oxford Dictionary) verb [with object]

1set (someone) free from imprisonment, slavery, or oppression: the serfs had been liberated

free (a place or people) from enemy occupation: twelve months earlier Paris had been liberated

release (someone) from a situation which limits freedom of thought or behavior: she is liberated from the constraints of an unhappy marriage (as adjective liberating) the arts can have a liberating effect on people

free (someone) from social conventions, especially those concerned with accepted sexual roles: ways of working politically that liberate women

Origin: Late 16th century: from Latin liberat-“freed,” from the verb liberare, from liber'free.'

Ý kiến bạn đọc
13/01/201323:18:04
Khách
Cộng sản chân chính, cộng sản cẳng chính, cộng sản pê-đê, cộng sản ô môi... tất cả cs đều là con... tự do hết ráo. Đồng bào đã nghe tôi rõ chưa (You know what I mean)?
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.