Hôm nay,  

Nếu – If

09/03/201300:00:00(Xem: 7015)
Này em! Lịch sử sẽ đổi thay nếu bắt đầu bằng chữ "nếu". Mà không hẳn trong lịch sử.! Trong tình yêu và đời mình cũng vậy. Bởi chúng mình như hai chiếc lá xanh trên rừng cây đời xinh tươi. Hay như hai chiếc lá vàng vật vờ theo mệnh đời trôi nổi. Chuyện chúng mình sẽ khác đi nhiều lắm với chữ “nếu”.

Nếu. Một con chữ ngắn gọn, lẻ loi, độc âm mà triền miên nhiều hệ lụy. Một con chữ khô khốc mà rớt rơi bao nuối tiếc, bao kinh nghiệm đắng cay, bao bài học không bao giờ thuộc. Một mệnh đề đơn chiếc để lại những dấu chấm lửng muộn màng...

Anh luôn mượn âm nhạc để phân trần. Anh luôn mượn những giaiđiệu thênh thang trong thi ca để biện hộ cho ngôn ngử chết tiệt của lòng. Bởi ngôn từ luôn keo kiệt và ngộ nhận trong khi âm nhạc và thi ca thì mênh mang đất trời. (Những vay mượn phù phiếm mà hào phóng cho em, như anh chưa bao giờ chật hẹp trong tình mình hiu hắt.) Phải đó! "Nếu ngày ấy mình đừng quen nhau. Thì ngày nay có đâu buồn đau."Thú đau thương mà nghe sao buồn quá. Sao em không chấp nhận “yêu là chết ở trong lòng một ít”? Vì yêu là cho chớ không là nhận, là hiến dâng với cả khối tình. Thì chết một ít hay nhiều cũng làm lòng chín nồng những hân hoan tình ái. Những niềm vui ít ỏi mà tình mình đem đến liệu có được dài lâu hơn trong tháng năm còn lại?

Nếu. Cũng là những giả định trong tương lai đầy khát khao hoặc lo âu hay nghi ngại bất toàn.

Nếu một mai em bước qua thềm
Nếu một mai em đốt pháo vui
Nếu về sau, quay gót cuốn mau
Nếu một mai em sẽ qua đời…

Thì “nếu ngày ấy” đầy trách móc hay “nếu về sau” đầy lo toan hay mộng ước cũng chỉ là một phận đời mong manh trong chữ Duyên hạnh ngộ. Mình hãy vui với những mất mát. Mình hãy buồn với những vẹn toàn của tình nhau bằng kỷ niệm, bằng những khúc hát lời ca.

Có lẻ vì vậy mà hôm nay anh hoài niệm hân hoan về một ca khúc thật hay và đẹp. Ca khúc If của ban nhạc Bread. Bài hát mà anh yêu thích vô cùng vào đầu năm 80 khi nghe ở quán cà phê Lan Anh nhỏ bé đầu hẻm ở đường phố Đà Nẳng. Một quán cà phê nhỏ nhắn, ấm cúng với những bản nhạc chọn lọc thật chậm và đẹp. Đẹp như cô chủ quán duyên dáng ít nói, có mái tóc dài mượt như đêm, ngồi lặng lẻ sau quầy như lẩn khuất trong giòng sông miên man của thanh âm dịu vợi.

If là một bản ballad nhẹ nhàng của David Gates viết vào năm 1971. Ban nhạc mang tên ổ bánh mì. Như David tâm sự thì trong lúc tìm tên để đặt cho ban nhạc, chiếc xe truck chở bánh mì đi ngang. Ban nhạc muốn cái tên bắt đầu bằng chữ B, vì hồi đó The Beatles và Beegees đã danh chấn giang hồ. Và cái tên Bread ngô nghê không hay có vẻ là lạ ra đời. Ca khúc If đứng thứ 4 trong Billboard Hot 100 của năm 1971 và đứng đầu bảng Easy Listerning Chart suốt 3 tuần lễ. Ở Mỹ, ca khúc này có tựa ngắn nhất trong số những bài hát hay trong lịch sử âm nhạc. Mãi đến khi Prince ra ca khúc “7” năm 1993 và Britney Spears với bản “3” năm 2009 thì “If” mới chịu nhường ngôi.

Em hãy cùng anh nghe lời tình tự:

If a picture paints a thousand words,
Then why cant I paint you?
The words will never show the you Ive come to know.
*
Nếu một bức tranh vẽlên ngàn lời
Thì tại sao anh không thể vẽ được em?
Những ngôn từ làm sao bày tỏ nổi
Nói về Em. Về em của tôi?

Nếu một bức tranh vẽ lên ngàn trùng ý, gởi gắm bao la tình. Thì những bức chân dung ngợi ca dáng hình em chỉ là thừa thải. Bởi vì da em trắng anh chẳng cần ánh sáng. Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân. Trên đời này sẽ chẳng có giai nhân. Vì anh gọi tên em là nhan sắc (Nguyên Sa). Bứcảnh nói lên ngàn lời. Cũng như nhan sắc em vời vợi. Thì cần thiết gì những mảng màu ý tưởng thô thiển, những ánh sáng tình ái xô nghiêng, những mùa xuân mùa hạ vô duyên và những ngôn từ huyên thiên bất lực.!

If a face could launch a thousand ships,
Then where am I to go?
Theres no one home but you,
Youre all thats left me too.
*
Nếu khuôn mặt làm ngàn thuyền hạ thủy.
Thì đi đâu, anh sẽ biết đi đâu?
Không có ai ngoại trừ em cả,
Chỉ mình em sót lại với anh thôi

Nếu một khuôn mặt làm ngàn chiến thuyền hạ thủy chinh chiến. Khuôn mặt ấy chính là em. Nàng Helen của thành Troy. Một nhan sắc lộng lẫy hớp hồn, khiến 10 năm chinh chiến trên một vương quốc ở Tiểu Á. Một cuộc chiến tranh huyền thoại trong thiên anh hùng ca lliad của Homer. Kéo vào cuộc một truyền thuyết Con Ngựa Thành Troy bi tráng bất tử. Một Ulysses mưu trí gian nan. Một Achilles tưởng chừng như bất khả chiến bại ngoại trừ gót chân nhược điểm…

And when my love for life is running dry,
You come and pour yourself on me.
*
Và khi đời anh chừng như cằn cổi
Em đến, buông mình vào lòng anh xinh tươi
Chừng như khi nắng hạn trong đời. Em đã đến, cơn mưa tình ái. Em đã đến rót vào anh tươi mát. Những nồng nàn thân xác tinh khôi.
If a man could be two places at one time,
Id be with you.
Tomorrow and today, beside you all the way.
If the world should stop revolving spinning slowly down to die,
Id spend the end with you.
*
Nếu thân này được ở hai nơi trong một lúc
Anh sẽ ở cùng em hôm nay và ngày mai
Anh sẽ ở cạnh em mãi mãi
Nếu trái đất ngừng quay và chết lịm
Anh nguyện cùng em đến cuối đời
*
And when the world was through,
Then one by one the stars would all go out,
Then you and I would simply fly away
Và khi thế giới này tan biến
Từng vì sao lịm tắt trên trời
Anh và em sẽ đơn giản tung cánh
Bay về miền miên viễn ngàn khơi

Lời thật hay mà ý thật nồng. Có lời ngợi ca tình yêu, ngợi ca Em nào đẹp bằng những ví von bóng bẩy nọ. Một dung nhan mà ngàn lời không tả được. Một khuôn mặt làm nên cuộc chinh chiến 10 năm. Một đức hạnh níu chân giang hồ phải dừng bước. Một ngọt ngào tươi dáng rót vào đời trai khô héo. Một nguyện cầu mãi mãi bên nhau cho đến khi tận thế thiên thu.

Đẹp - Đức Hạnh - Thủy Chung. Có mơ ước nào hơn như thế cho tình yêu lứa đôi.? Một mơ ước bắt đầu bằng chữ “nếu” và trọn vẹn với chữ "thì". Anh và Em là "nếu" với "thì". Là If và Then. Là âm và dương, là một và không, là hạt muối mặn với miếng gừng cay. Ngọt bùi cho nhau hẹn ước sắc son "I Do".

Cũng như lời hát đẹp, đẹp như những lời chót lưởi đầu môi, đẹp như tháng ngày đầu tinh khôi, đẹp như tuổi xuân thì mơn mởn. Giai điệu của ca khúc cũng thật đẹp, thật chậm với tiếng đàn guitar trémolo âm dội vang vọng từng nốt nhạc như bản slow mùi mẫn cận kề môi má. Hơi thở thầm thì quyện vào nhau. Tay trong tay trong điệu nhảy đầu tiên của ngày cưới hân hoan. Ngập tràn ước mơ hạnh phúc trăm năm.

If a picture paints a thousand words, then this song paints a thousand precious memories of our youth.

If thật đẹp và hay phải không em?

SB. 3- 3-2013
NP Bảo Sinh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 2013, khi Tập Cận Bình nắm giữ hai chức vụ cao nhất trong đảng và chính quyền, với tham vọng lớn lao khi vạch ra cái bẫy “Nhất Đới Nhất Lộ”, nhằm thôn tính, quy về một mối từ kinh tế lẫn chính trị. Trung Quốc bỏ ra hàng nghìn tỷ Mỹ kim để ve vản, hối lộ quan chức thẩm quyền của các nước đồng lõa ký kết những dự án xây dựng. Bị sa vào bẫy nợ bao nhiêu, bị lệ thuộc vào Trung Cộng bấy nhiêu, từ thuê mướn trở thành đặc khu (lãnh địa của Trung Quốc) với 99 năm.
Vấn đề kỳ thị chủng tộc là chuyện rất bình thường ở đâu cũng có hết. Là người Việt sống tại hải ngoại chúng ta cũng không thể thoát ra khỏi vấn đề nầy. Tuy nhiên sự kỳ thị có ảnh hưởng nhiều hay ít đến nạn nhân hay không cũng còn tùy thuộc một phần lớn vào thái độ và cách suy nghĩ của mỗi người.
Vài năm vừa qua, giới quan sát quốc tế và quốc nội Hoa Kỳ đều nhận ra một điều là chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc ngày nay có xu hướng thiên về mặt cứng rắn hơn. Hầu hết các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đều có một ý nghĩ chung là phải áp dụng một chính sách mới hầu giảm thiểu hoặc chí ít hạn chế tính cách hung hăng càng ngày càng trở nên rõ rệt của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) dưới quyền lãnh đạo của lãnh tụ tối cao, Chủ tịch nhà nước kiêm Tổng Bí thư Tập Cận Bình. Tình trạng căng thẳng giữa hai siêu cường, cộng thêm áp lực do trận đại dịch Covid-19 và kinh tế suy thoái, rất có thể sẽ khiến cái bề mặt tưởng chắc chắn như tường đồng vách sắt của Tập và Bắc Kinh có cơ rạn nứt.
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.