Hôm nay,  

Nếu – If

09/03/201300:00:00(Xem: 8423)
Này em! Lịch sử sẽ đổi thay nếu bắt đầu bằng chữ "nếu". Mà không hẳn trong lịch sử.! Trong tình yêu và đời mình cũng vậy. Bởi chúng mình như hai chiếc lá xanh trên rừng cây đời xinh tươi. Hay như hai chiếc lá vàng vật vờ theo mệnh đời trôi nổi. Chuyện chúng mình sẽ khác đi nhiều lắm với chữ “nếu”.

Nếu. Một con chữ ngắn gọn, lẻ loi, độc âm mà triền miên nhiều hệ lụy. Một con chữ khô khốc mà rớt rơi bao nuối tiếc, bao kinh nghiệm đắng cay, bao bài học không bao giờ thuộc. Một mệnh đề đơn chiếc để lại những dấu chấm lửng muộn màng...

Anh luôn mượn âm nhạc để phân trần. Anh luôn mượn những giaiđiệu thênh thang trong thi ca để biện hộ cho ngôn ngử chết tiệt của lòng. Bởi ngôn từ luôn keo kiệt và ngộ nhận trong khi âm nhạc và thi ca thì mênh mang đất trời. (Những vay mượn phù phiếm mà hào phóng cho em, như anh chưa bao giờ chật hẹp trong tình mình hiu hắt.) Phải đó! "Nếu ngày ấy mình đừng quen nhau. Thì ngày nay có đâu buồn đau."Thú đau thương mà nghe sao buồn quá. Sao em không chấp nhận “yêu là chết ở trong lòng một ít”? Vì yêu là cho chớ không là nhận, là hiến dâng với cả khối tình. Thì chết một ít hay nhiều cũng làm lòng chín nồng những hân hoan tình ái. Những niềm vui ít ỏi mà tình mình đem đến liệu có được dài lâu hơn trong tháng năm còn lại?

Nếu. Cũng là những giả định trong tương lai đầy khát khao hoặc lo âu hay nghi ngại bất toàn.

Nếu một mai em bước qua thềm
Nếu một mai em đốt pháo vui
Nếu về sau, quay gót cuốn mau
Nếu một mai em sẽ qua đời…

Thì “nếu ngày ấy” đầy trách móc hay “nếu về sau” đầy lo toan hay mộng ước cũng chỉ là một phận đời mong manh trong chữ Duyên hạnh ngộ. Mình hãy vui với những mất mát. Mình hãy buồn với những vẹn toàn của tình nhau bằng kỷ niệm, bằng những khúc hát lời ca.

Có lẻ vì vậy mà hôm nay anh hoài niệm hân hoan về một ca khúc thật hay và đẹp. Ca khúc If của ban nhạc Bread. Bài hát mà anh yêu thích vô cùng vào đầu năm 80 khi nghe ở quán cà phê Lan Anh nhỏ bé đầu hẻm ở đường phố Đà Nẳng. Một quán cà phê nhỏ nhắn, ấm cúng với những bản nhạc chọn lọc thật chậm và đẹp. Đẹp như cô chủ quán duyên dáng ít nói, có mái tóc dài mượt như đêm, ngồi lặng lẻ sau quầy như lẩn khuất trong giòng sông miên man của thanh âm dịu vợi.

If là một bản ballad nhẹ nhàng của David Gates viết vào năm 1971. Ban nhạc mang tên ổ bánh mì. Như David tâm sự thì trong lúc tìm tên để đặt cho ban nhạc, chiếc xe truck chở bánh mì đi ngang. Ban nhạc muốn cái tên bắt đầu bằng chữ B, vì hồi đó The Beatles và Beegees đã danh chấn giang hồ. Và cái tên Bread ngô nghê không hay có vẻ là lạ ra đời. Ca khúc If đứng thứ 4 trong Billboard Hot 100 của năm 1971 và đứng đầu bảng Easy Listerning Chart suốt 3 tuần lễ. Ở Mỹ, ca khúc này có tựa ngắn nhất trong số những bài hát hay trong lịch sử âm nhạc. Mãi đến khi Prince ra ca khúc “7” năm 1993 và Britney Spears với bản “3” năm 2009 thì “If” mới chịu nhường ngôi.

Em hãy cùng anh nghe lời tình tự:

If a picture paints a thousand words,
Then why cant I paint you?
The words will never show the you Ive come to know.
*
Nếu một bức tranh vẽlên ngàn lời
Thì tại sao anh không thể vẽ được em?
Những ngôn từ làm sao bày tỏ nổi
Nói về Em. Về em của tôi?

Nếu một bức tranh vẽ lên ngàn trùng ý, gởi gắm bao la tình. Thì những bức chân dung ngợi ca dáng hình em chỉ là thừa thải. Bởi vì da em trắng anh chẳng cần ánh sáng. Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân. Trên đời này sẽ chẳng có giai nhân. Vì anh gọi tên em là nhan sắc (Nguyên Sa). Bứcảnh nói lên ngàn lời. Cũng như nhan sắc em vời vợi. Thì cần thiết gì những mảng màu ý tưởng thô thiển, những ánh sáng tình ái xô nghiêng, những mùa xuân mùa hạ vô duyên và những ngôn từ huyên thiên bất lực.!

If a face could launch a thousand ships,
Then where am I to go?
Theres no one home but you,
Youre all thats left me too.
*
Nếu khuôn mặt làm ngàn thuyền hạ thủy.
Thì đi đâu, anh sẽ biết đi đâu?
Không có ai ngoại trừ em cả,
Chỉ mình em sót lại với anh thôi

Nếu một khuôn mặt làm ngàn chiến thuyền hạ thủy chinh chiến. Khuôn mặt ấy chính là em. Nàng Helen của thành Troy. Một nhan sắc lộng lẫy hớp hồn, khiến 10 năm chinh chiến trên một vương quốc ở Tiểu Á. Một cuộc chiến tranh huyền thoại trong thiên anh hùng ca lliad của Homer. Kéo vào cuộc một truyền thuyết Con Ngựa Thành Troy bi tráng bất tử. Một Ulysses mưu trí gian nan. Một Achilles tưởng chừng như bất khả chiến bại ngoại trừ gót chân nhược điểm…

And when my love for life is running dry,
You come and pour yourself on me.
*
Và khi đời anh chừng như cằn cổi
Em đến, buông mình vào lòng anh xinh tươi
Chừng như khi nắng hạn trong đời. Em đã đến, cơn mưa tình ái. Em đã đến rót vào anh tươi mát. Những nồng nàn thân xác tinh khôi.
If a man could be two places at one time,
Id be with you.
Tomorrow and today, beside you all the way.
If the world should stop revolving spinning slowly down to die,
Id spend the end with you.
*
Nếu thân này được ở hai nơi trong một lúc
Anh sẽ ở cùng em hôm nay và ngày mai
Anh sẽ ở cạnh em mãi mãi
Nếu trái đất ngừng quay và chết lịm
Anh nguyện cùng em đến cuối đời
*
And when the world was through,
Then one by one the stars would all go out,
Then you and I would simply fly away
Và khi thế giới này tan biến
Từng vì sao lịm tắt trên trời
Anh và em sẽ đơn giản tung cánh
Bay về miền miên viễn ngàn khơi

Lời thật hay mà ý thật nồng. Có lời ngợi ca tình yêu, ngợi ca Em nào đẹp bằng những ví von bóng bẩy nọ. Một dung nhan mà ngàn lời không tả được. Một khuôn mặt làm nên cuộc chinh chiến 10 năm. Một đức hạnh níu chân giang hồ phải dừng bước. Một ngọt ngào tươi dáng rót vào đời trai khô héo. Một nguyện cầu mãi mãi bên nhau cho đến khi tận thế thiên thu.

Đẹp - Đức Hạnh - Thủy Chung. Có mơ ước nào hơn như thế cho tình yêu lứa đôi.? Một mơ ước bắt đầu bằng chữ “nếu” và trọn vẹn với chữ "thì". Anh và Em là "nếu" với "thì". Là If và Then. Là âm và dương, là một và không, là hạt muối mặn với miếng gừng cay. Ngọt bùi cho nhau hẹn ước sắc son "I Do".

Cũng như lời hát đẹp, đẹp như những lời chót lưởi đầu môi, đẹp như tháng ngày đầu tinh khôi, đẹp như tuổi xuân thì mơn mởn. Giai điệu của ca khúc cũng thật đẹp, thật chậm với tiếng đàn guitar trémolo âm dội vang vọng từng nốt nhạc như bản slow mùi mẫn cận kề môi má. Hơi thở thầm thì quyện vào nhau. Tay trong tay trong điệu nhảy đầu tiên của ngày cưới hân hoan. Ngập tràn ước mơ hạnh phúc trăm năm.

If a picture paints a thousand words, then this song paints a thousand precious memories of our youth.

If thật đẹp và hay phải không em?

SB. 3- 3-2013
NP Bảo Sinh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.