Hôm nay,  

Nếu – If

09/03/201300:00:00(Xem: 10412)
Này em! Lịch sử sẽ đổi thay nếu bắt đầu bằng chữ "nếu". Mà không hẳn trong lịch sử.! Trong tình yêu và đời mình cũng vậy. Bởi chúng mình như hai chiếc lá xanh trên rừng cây đời xinh tươi. Hay như hai chiếc lá vàng vật vờ theo mệnh đời trôi nổi. Chuyện chúng mình sẽ khác đi nhiều lắm với chữ “nếu”.

Nếu. Một con chữ ngắn gọn, lẻ loi, độc âm mà triền miên nhiều hệ lụy. Một con chữ khô khốc mà rớt rơi bao nuối tiếc, bao kinh nghiệm đắng cay, bao bài học không bao giờ thuộc. Một mệnh đề đơn chiếc để lại những dấu chấm lửng muộn màng...

Anh luôn mượn âm nhạc để phân trần. Anh luôn mượn những giaiđiệu thênh thang trong thi ca để biện hộ cho ngôn ngử chết tiệt của lòng. Bởi ngôn từ luôn keo kiệt và ngộ nhận trong khi âm nhạc và thi ca thì mênh mang đất trời. (Những vay mượn phù phiếm mà hào phóng cho em, như anh chưa bao giờ chật hẹp trong tình mình hiu hắt.) Phải đó! "Nếu ngày ấy mình đừng quen nhau. Thì ngày nay có đâu buồn đau."Thú đau thương mà nghe sao buồn quá. Sao em không chấp nhận “yêu là chết ở trong lòng một ít”? Vì yêu là cho chớ không là nhận, là hiến dâng với cả khối tình. Thì chết một ít hay nhiều cũng làm lòng chín nồng những hân hoan tình ái. Những niềm vui ít ỏi mà tình mình đem đến liệu có được dài lâu hơn trong tháng năm còn lại?

Nếu. Cũng là những giả định trong tương lai đầy khát khao hoặc lo âu hay nghi ngại bất toàn.

Nếu một mai em bước qua thềm
Nếu một mai em đốt pháo vui
Nếu về sau, quay gót cuốn mau
Nếu một mai em sẽ qua đời…

Thì “nếu ngày ấy” đầy trách móc hay “nếu về sau” đầy lo toan hay mộng ước cũng chỉ là một phận đời mong manh trong chữ Duyên hạnh ngộ. Mình hãy vui với những mất mát. Mình hãy buồn với những vẹn toàn của tình nhau bằng kỷ niệm, bằng những khúc hát lời ca.

Có lẻ vì vậy mà hôm nay anh hoài niệm hân hoan về một ca khúc thật hay và đẹp. Ca khúc If của ban nhạc Bread. Bài hát mà anh yêu thích vô cùng vào đầu năm 80 khi nghe ở quán cà phê Lan Anh nhỏ bé đầu hẻm ở đường phố Đà Nẳng. Một quán cà phê nhỏ nhắn, ấm cúng với những bản nhạc chọn lọc thật chậm và đẹp. Đẹp như cô chủ quán duyên dáng ít nói, có mái tóc dài mượt như đêm, ngồi lặng lẻ sau quầy như lẩn khuất trong giòng sông miên man của thanh âm dịu vợi.

If là một bản ballad nhẹ nhàng của David Gates viết vào năm 1971. Ban nhạc mang tên ổ bánh mì. Như David tâm sự thì trong lúc tìm tên để đặt cho ban nhạc, chiếc xe truck chở bánh mì đi ngang. Ban nhạc muốn cái tên bắt đầu bằng chữ B, vì hồi đó The Beatles và Beegees đã danh chấn giang hồ. Và cái tên Bread ngô nghê không hay có vẻ là lạ ra đời. Ca khúc If đứng thứ 4 trong Billboard Hot 100 của năm 1971 và đứng đầu bảng Easy Listerning Chart suốt 3 tuần lễ. Ở Mỹ, ca khúc này có tựa ngắn nhất trong số những bài hát hay trong lịch sử âm nhạc. Mãi đến khi Prince ra ca khúc “7” năm 1993 và Britney Spears với bản “3” năm 2009 thì “If” mới chịu nhường ngôi.

Em hãy cùng anh nghe lời tình tự:

If a picture paints a thousand words,
Then why cant I paint you?
The words will never show the you Ive come to know.
*
Nếu một bức tranh vẽlên ngàn lời
Thì tại sao anh không thể vẽ được em?
Những ngôn từ làm sao bày tỏ nổi
Nói về Em. Về em của tôi?

Nếu một bức tranh vẽ lên ngàn trùng ý, gởi gắm bao la tình. Thì những bức chân dung ngợi ca dáng hình em chỉ là thừa thải. Bởi vì da em trắng anh chẳng cần ánh sáng. Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân. Trên đời này sẽ chẳng có giai nhân. Vì anh gọi tên em là nhan sắc (Nguyên Sa). Bứcảnh nói lên ngàn lời. Cũng như nhan sắc em vời vợi. Thì cần thiết gì những mảng màu ý tưởng thô thiển, những ánh sáng tình ái xô nghiêng, những mùa xuân mùa hạ vô duyên và những ngôn từ huyên thiên bất lực.!

If a face could launch a thousand ships,
Then where am I to go?
Theres no one home but you,
Youre all thats left me too.
*
Nếu khuôn mặt làm ngàn thuyền hạ thủy.
Thì đi đâu, anh sẽ biết đi đâu?
Không có ai ngoại trừ em cả,
Chỉ mình em sót lại với anh thôi

Nếu một khuôn mặt làm ngàn chiến thuyền hạ thủy chinh chiến. Khuôn mặt ấy chính là em. Nàng Helen của thành Troy. Một nhan sắc lộng lẫy hớp hồn, khiến 10 năm chinh chiến trên một vương quốc ở Tiểu Á. Một cuộc chiến tranh huyền thoại trong thiên anh hùng ca lliad của Homer. Kéo vào cuộc một truyền thuyết Con Ngựa Thành Troy bi tráng bất tử. Một Ulysses mưu trí gian nan. Một Achilles tưởng chừng như bất khả chiến bại ngoại trừ gót chân nhược điểm…

And when my love for life is running dry,
You come and pour yourself on me.
*
Và khi đời anh chừng như cằn cổi
Em đến, buông mình vào lòng anh xinh tươi
Chừng như khi nắng hạn trong đời. Em đã đến, cơn mưa tình ái. Em đã đến rót vào anh tươi mát. Những nồng nàn thân xác tinh khôi.
If a man could be two places at one time,
Id be with you.
Tomorrow and today, beside you all the way.
If the world should stop revolving spinning slowly down to die,
Id spend the end with you.
*
Nếu thân này được ở hai nơi trong một lúc
Anh sẽ ở cùng em hôm nay và ngày mai
Anh sẽ ở cạnh em mãi mãi
Nếu trái đất ngừng quay và chết lịm
Anh nguyện cùng em đến cuối đời
*
And when the world was through,
Then one by one the stars would all go out,
Then you and I would simply fly away
Và khi thế giới này tan biến
Từng vì sao lịm tắt trên trời
Anh và em sẽ đơn giản tung cánh
Bay về miền miên viễn ngàn khơi

Lời thật hay mà ý thật nồng. Có lời ngợi ca tình yêu, ngợi ca Em nào đẹp bằng những ví von bóng bẩy nọ. Một dung nhan mà ngàn lời không tả được. Một khuôn mặt làm nên cuộc chinh chiến 10 năm. Một đức hạnh níu chân giang hồ phải dừng bước. Một ngọt ngào tươi dáng rót vào đời trai khô héo. Một nguyện cầu mãi mãi bên nhau cho đến khi tận thế thiên thu.

Đẹp - Đức Hạnh - Thủy Chung. Có mơ ước nào hơn như thế cho tình yêu lứa đôi.? Một mơ ước bắt đầu bằng chữ “nếu” và trọn vẹn với chữ "thì". Anh và Em là "nếu" với "thì". Là If và Then. Là âm và dương, là một và không, là hạt muối mặn với miếng gừng cay. Ngọt bùi cho nhau hẹn ước sắc son "I Do".

Cũng như lời hát đẹp, đẹp như những lời chót lưởi đầu môi, đẹp như tháng ngày đầu tinh khôi, đẹp như tuổi xuân thì mơn mởn. Giai điệu của ca khúc cũng thật đẹp, thật chậm với tiếng đàn guitar trémolo âm dội vang vọng từng nốt nhạc như bản slow mùi mẫn cận kề môi má. Hơi thở thầm thì quyện vào nhau. Tay trong tay trong điệu nhảy đầu tiên của ngày cưới hân hoan. Ngập tràn ước mơ hạnh phúc trăm năm.

If a picture paints a thousand words, then this song paints a thousand precious memories of our youth.

If thật đẹp và hay phải không em?

SB. 3- 3-2013
NP Bảo Sinh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.