Hôm nay,  

Mùa Vàng Rơi

18/10/201300:00:00(Xem: 5836)
Này em, hẳn em còn nhớ những vần thơ của Rabidranath Tagore anh chép tặng em thời niên thiếu; một Tâm Tình Hiến Dâng, một Tặng Vật như ngày ấy chúng mình trao nhau. Và sáng nay, khi những tiếng chim thôi xôn xao trước hiên nhà gợi nhớ Strays Bird - Những con chim bay lạc thật đẹp:

Stray birds of summer come to my window
to sing and fly away.
And yellow leaves of autumn,
which have no songs,
flutter and fall there with a sigh.

Những con chim mùa hè bay lạc
đến cửa sổ tôi
để hót lên rồi lại bay đi.
Còn những chiếc lá thu vàng
không lời ca tiếng hát,
chỉ run rẩy và thở dài rơi xuống.


Những chiếc lá thu vàng như tiễn đưa một mùa hè nóng bức, như lo âu một mùa đông băng giá chưa đến, mà thảng thốt một tiếng thu làm đắm say, lay lắt lòng mình. Những chiếc lá thu sáng nay và vần thơ đó theo giai điệu tuyệt vời man mác của Autumn Leaves trở về. Từ những chiếc lá khô Les Feuilles Mortes của Jacques Prévert.

Ôi, anh mong rằng em vẫn còn nhớ
Những ngày hạnh phúc khi chúng mình vẫn còn làm bạn.
Thời ấy cuộc đời đẹp hơn
Và Mặt Trời rực rỡ hơn giờ đây.
Những chiếc lá khô vun lại thành từng xẻng.
Em thấy đấy, anh nào có quên…
Những chiếc lá khô vun lại thành từng xẻng.
Những ký ức, những luyến tiếc cũng vậy.
Và những cơn gió từ phương Bắc mang chúng đi
Trong màn đêm lạnh lẽo của quên lãng.
Em thấy đấy, anh nào có quên
Khúc ca mà em vẫn thường hát cho anh.


Những nuối tiếc vắng xa một tình yêu, khi mùa vàng héo hon, khi gió bắc se lạnh, khi sóng biển mùa hè đã qua xóa đi dấu tình ngày nao sắt son. Không tan tác tuyệt vọng, không vĩnh viễn xa mùa, khi Johnny Mercer viết lời tiếng Anh cho bài "Autumn leaves" thì vẫn giữ được cái ý chia lìa như trong bài thơ của Prévert, sự ngăn cách vẫn có thể mới chỉ là một sự tạm biệt, sự ngăn cách vẫn hoài vọng một niềm yêu mượt mà thủy chung không mộng mị. Chỉ là nỗi nhớ miên man và nhẹ nhàng như gió thu, đưa giai điệu chậm buồn thật đẹp của Joseph Kosma trở thành ca khúc mùa thu đẹp nhất.

The falling leaves drift by the window
The autumn leaves of red and gold
I see your lips, the summer kisses
The sun-burned hands I used to hold
.
Since you went away the days grow long
And soon I'll hear old winter's song
But I miss you most of all my darling
When autumn leaves start to fall
Lá rơi từng chiếc bên song
Những chiếc lá úa mùa thu đỏ vàng
Nhớ môi em, nụ hôn hè
Và tay rám nắng, nâng niu một thời
.
Từ em xa khuất ngày dài
Bài ca đông cũ sớm về trong anh
Nhưng lòng nhớ nhất mình em
Khi những chiếc lá mùa thu lìa cành.


Phải không em khi ngày của tháng Mười ngắn hơn, nắng thưa hơn bên bờ giậu cũ. Nhưng lại quá dài khi ta xa nhau. Những chiếc lá uá ngập bước chân ngày, vỡ giòn dưới gót chân thưa, nghe như đốt trong lòng một ngọn lửa vàng thu. Anh không còn trẻ để đợi chờ một mùa tình đến muộn, để đuổi bắt em quanh cây phong già, để ngã cùng em trên đống lá khô, nghe tháng Năm trôi vào tháng Chín thật nhanh như câu hát của Frank Sinatra:


Oh it’s a long long while from May to December
But the days grow short when you reach September
When the autumn weather turns the leaves to flame
One hasn’t got time for the waiting game. (September Song)


Anh không còn trẻ mãi để đợi tình em khi mùa thu về. Như câu thơ ai đó năm nào, không nhớ trọn:

Khi em lớn thì tôi đã già cỗi
Tóc còn đen nhưng hồn đã trắng phau
Tim còn đập nhưng lòng đà mệt mỏi
Biết đường tình ta có đuổi kịp nhau.


Phải chăng em khi mùa thu đời người là lúc anh qua tuổi năm mươi. Đã chín chắn để thấy cây đời mình đến lúc thay áo vàng, tạm biệt một mùa hè ân ái tuổi hoa để chuẩn bị cho một mùa đông già cỗi. Trong Hán tự, chữ sầu có chữ thu nằm trên chữ tâm. Có trái sầu rụng rơi khi thu về trên tâm cảnh đời mình? Cớ sao người Mỹ gọi mùa thu là fall? Mùa vàng rơi hay tiếng lá rơi, giọt mưa rơi rả ríc hay nắng nhạt thưa rơi. Ngọn gió mát nhẹ rơi hay tiếng đập cánh của con chim bay lạc vào khung cửa vắng...Rơi theo tiếng thì thầm của lòng khi con đường đời mỗi ngày hai buổi đi - về, chợt một sáng thay lá vàng và nghe thấp thoáng một mùa đông giá rét nhiều dự báo những hư hao.

Đời của lá có như đời anh. Lắm lần đem diệp lục tố phơi giữa mặt trời ngày. Đem màu xanh của tuổi xuân làm nên cây trái ngọt cho con, đem bóng mát của tình mình che chở cho em những ngày gian khổ. Anh có như tiếng ve kia nhiều năm ăn năn trong lòng đất, đợi một mùa hè cất tiếng hát ca, rồi giã biệt theo cành phượng đỏ...

Không còn thấy những chiếc lá ngô đồng rơi trong công viên dọc bờ sông Hương, những chiếc lá me lay bay chiều thu Sài Gòn, những chiếc lá thông úa rơi ngập Thung Lũng Tình Yêu và cành liểu rũ ven hồ ngày nọ. Nhưng anh vẫn thấy lòng ngập đầy thu trước sân với cội phong già. Em không còn đó như tiếng cười đã giấu vào kẽ lá. Nụ hôn nào đó lẩn khuất trong gió nhẹ. Những đống lá vàng cao dần theo ngày thu, dù anh đã quét, như quét tình nhau đến bao lần:

Lá thu vàng mấy độ
Anh quét bấy nhiêu lần
Áo em vàng một độ
Anh quét hoài không xong


Thì em, xin những tiếng đập khô khan của cánh chim bay lạc vào khung cửa sổ sáng nay, những tiếng thu hoài niệm. Xin những bài ca mùa đông cũ khoan về; hãy cứ để những chiếc lá thu rơi đầy ngỏ vắng. Anh sẽ vốc đầy tay những mùa vàng rơi và thả ca khúc Lá Thu gởi vào ngày cho em! Như con chim bay lạc kia không màng tìm chốn đậu, bên đời hiu quạnh. Khi mùa vàng rơi, nhiều như lá thu buồn không đợi nhau rụng bay. Như anh và em.

Tháng mười 2013

Sean Bảo

www.baosinh.com| Tùy Bút site

www.sean-bao.com| SB Graphic Design

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.