Hôm nay,  

Huyền Thoại Kennedy

26/11/201300:00:00(Xem: 12148)
...lý do thất bại là TT Kennedy quyết định đánh một cách đánh nửa vời, vừa đánh vừa run...

Tuần vừa qua đánh dấu đúng 50 năm kỷ niệm TT Kennedy bị ám sát chết.

Đối với người Việt chúng ta, tháng này cũng đánh dấu một cái chết quan trọng hơn nhiều. Đó là cái chết của TT Ngô Đình Diệm và em là ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Cái chết của anh em ông Diệm là cái chết đổi đời, thay đổi hẳn một chế độ, và đã có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng cho đất nước. Người ta có thể tranh luận đến vô tận, nhưng không ai có câu trả lời nếu TT Diệm không bị đảo chánh và không bị giết thì nước ta bây giờ như thế nào. Cuộc tranh luận này, xin nhường lại cho các vị sử gia uyên bác. Trong bài này, chúng ta chỉ bàn về TT Kennedy.

TT John Fitzgerald Kennedy là vị tổng thống đã tại chức ngắn nhất trong lịch sử cận đại Mỹ, vỏn vẹn ba năm, nhưng lại là vị tổng thống để lại nhiều dấu ấn lịch sử nhất. Riêng đối với vấn đề Việt Nam, ông là người đã thay đổi cuộc diện chiến tranh Việt Nam.

Việc ông bị ám sát đã chấn động nước Mỹ và cả thế giới như chưa một biến cố nào có thể có ảnh hưởng lớn như vậy, ngoại trừ đại chiến thế giới, sự sụp đổ của chế độ CS, hay vụ 9/11.

Sau đó, thì có lẽ chưa có tổng thống Mỹ nào được ca tụng, thần thánh hoá như TT Kennedy. Ông được ca tụng như một trong những tổng thống tài giỏi nhất lịch sử Mỹ, với những bài diễn văn hùng hồn, xúc động cả triệu người trên thế giới. “Đừng hỏi đất nước này đã làm gì cho bạn, mà hãy tự hỏi bạn đã làm gì cho đất nước này”. “Hãy để tất cả các nước trên thế giới này biết, cho dù họ muốn tốt hay muốn xấu cho chúng ta, là chúng ta sẽ trả mọi giá, chịu mọi gánh nặng, hứng mọi khổ cực để hỗ trợ mọi nước bạn, chống mọi kẻ thù, để bảo đảm sự tồn tại và thành công của tự do”.

Một người đã lãnh đạo thế giới tự do đứng lên chống làn sóng đỏ tại Cuba, Bá Linh, và Việt Nam. Một người cũng đã đi tiên phong trong việc nới rộng cánh tay nhân đạo Mỹ, đi cứu giúp cả thế giới chậm tiến qua chương trình Peace Corps, với cả ngàn thanh niên thiện nguyện Mỹ đi giúp dân nghèo đói, bệnh tật khắp thế giới. Một người đã mở rộng biên cương mới của nước Mỹ khi mở ra chương trình thám hiểm không gian.

Đó là hình ảnh của TT Kennedy qua con mắt của truyền thông cấp tiến. Sự thật như thế nào? Ta hãy xét qua vài biến cố lớn nhất dưới triều đại Kennedy.

VỊNH CON HEO

TT Kennedy tuyên thệ nhậm chức đầu tháng Hai năm 1961. Chưa đầy hai tháng sau, xẩy ra biến cố Vịnh Con Heo.

Công bằng mà nói, TT Kennedy bị đặt vào thế chuyện đã rồi, khó làm gì khác được. Trước hiểm hoạ cộng sản sát nách tại Cuba, giữa cuộc chiến tranh lạnh cực kỳ căng thẳng của thập niên 60, đây là một đe dọa trực tiếp cho nước Mỹ. TT Eisenhower quyết định phải lật đổ Fidel Castro, chấm dứt mối đe dọa thường trực trong sân sau nhà. Theo kế hoạch, Mỹ sẽ giúp một nhóm vài ngàn chí nguyện quân trong khối dân Cuba đang tỵ nạn tại Mỹ. Họ sẽ được Mỹ huấn luyện, tài trợ, rồi đổ bộ lên Vịnh Con Heo tại Cuba, tấn công và lật đổ Castro. Kế hoạch còn đang được soạn thảo khi TT Kennedy đắc cử, và ngay sau đó được hoàn tất. Tân TT Kennedy bị đặt vào thế phải quyết định tiến hành hay không.

Trong suốt cuộc tranh cử chống PTT Nixon, TNS Kennedy đã bị phe Cộng Hòa tô vẽ như một người ngây thơ, không có kinh nghiệm chính trị quốc tế, yếu đuối, sẽ bị Krushchev bóp mũi. Với hình ảnh đó, TT Kennedy không có lựa chọn nào khác trước thử thách quốc tế quan trọng đầu tiên. Ông quyết định đánh.

Theo kế hoạch, Mỹ sẽ cho phi cơ đánh không lực Castro trước, rồi tiếp thả bom diệt quân của Castro, và nếu chẳng may đổ bộ thất bại, thì đổ tàu vào cứu nhóm nghiã quân.

Cuộc đánh bom đầu tiên thất bại, chỉ tiêu hủy được một vài chiếc máy bay của Castro. Cuộc đổ bộ 1.400 quân kháng chiến Cuba cũng thất bại nặng khi Castro cho máy bay thả bom và bắn quân kháng chiến đang nằm trơ trên bãi cát. Hai chiếc tàu lớn chở súng đạn tiếp tế đậu ngoài khơi cũng bị đánh chìm. Kháng chiến quân bị đe dọa tiêu diệt hoàn toàn. Cầu cứu Mỹ. TT Kennedy lên cơn rét, đổi quyết định, ra lệnh quân lực Mỹ không được cứu giúp dưới bất cứ hình thức nào. Toàn bộ khối quân kháng chiến hoặc bị giết, hoặc bị bắt cầm tù.

Truyền thông phe ta xúm lại đổ lỗi cho CIA và Ngũ Giác Đài đã cài TT Kennedy trong thế kẹt, rồi ca tụng TT Kennedy đã không sa lầy trong cái bẫy của CIA. Không ai nói đến chyện TT Kennedy có quyền hủy toàn bộ kế hoặch, mà ông đã không làm vì sợ mang tiếng yếu đuối.

Mấy năm sau, các sử gia nghiên cứu thấy lý do thất bại là TT Kennedy quyết định đánh một cách đánh nửa vời, vừa đánh vừa run, tìm đường tháo chạy. Kết quả là trước thử thách đầu tiên, TT Kennedy đã hoàn toàn thảm bại, cả trăm quân kháng chiến bị chết, cả ngàn còn lại bị tù đầy. TT Kennedy tuyên bố hùng hồn “trả mọi giá... để bảo đảm... tự do”: coi dzậy mà hổng phải dzậy!

KHỦNG HOẢNG HOẢ TIỄN NGUYÊN TỬ

Trước thắng lợi trọn vẹn tại Vịnh Con Heo, Castro thừa thắng xông lên, bắt tay với Liên Sô, cho Liên Sô lập mấy dàn hỏa tiễn có đầu đạn nguyên tử và có tầm bắn tới New York và Washington. Tình báo Mỹ chụp hình thấy rõ ràng. Không thể ngồi yên trước đe dọa trực tiếp và cụ thể này nữa, TT Kennedy ra lệnh phong tỏa Cuba, chặn tất cả các tầu vào Cuba, và điều đình với Krushchev. Quân đội Mỹ khắp thế giới báo động đỏ cấp cao nhất. Thế giới bên bờ vực của thế chiến thứ ba, lần này khủng khiếp hơn nhiều vì là giữa hai cường quốc đều có bom nguyên tử. Dân Mỹ xanh mặt vì nguy cơ lãnh bom nguyên tử thật sự, chứ không còn là đánh nhau trên vài hòn đảo tuốt tuột bên kia Thái Bình Dương như thời thế chiến.

Vài ngày sau, Krushchev ra lệnh tháo gỡ các dàn hỏa tiễn, mang về Liên Sô. Truyền thông tung hô TT Kennedy như người đã đại thắng, ép được tên điên khùng nguy hiểm Krushchev vào đường cùng phải chịu thua. Một lãnh tụ cực tài giỏi, bình tĩnh, can đảm, cứu được nước Mỹ mà không tốn một viên đạn, chứ đừng nói tới chuyện tránh được bom nguyên tử.

Cũng chỉ mấy năm sau, những tài liệu được giải mật cho thấy thực sự TT Kennedy đã... thua đậm. Thua vì không bứng được cái gai Castro ngay bên hông, vẫn tồn tại cho đến ngày nay, hơn nửa thế kỷ sau. Nhưng quan trọng hơn nhiều là thua vì ông đã nhượng bộ hai đòi hỏi của Krushchev: 1) Mỹ phải chấm dứt chương trình không thám U-2 trên lãnh thổ Nga và Đông Âu, và 2) Mỹ phải tháo gỡ toàn bộ dàn hoả tiễn nguyên tử đã dựng lên từ sau thế chiến tại Thổ Nhĩ Kỳ nhắm vào các thành phố lớn và các địa điểm chiến lược quan trọng nhất của Liên Sô.

Nói cách khác, Krushchev vướng vào hai cái gai đó, không biết cách nào gỡ được dưới thời TT Eisenhower, bây giờ mang hoả tiễn nguyên tử vào Cuba để hù dọa và đổi chác với Kennedy, và TT Kennedy đã nhượng bộ, đáp ứng tất cả đòi hỏi của Krushchev. Chuyện Krushchev công khai lập dàn hỏa tiễn, chẳng dấu diếm gì là bằng chứng rõ ràng Krushchev muốn cho Mỹ biết để có dịp đổi chác trả giá. Kết quả cuộc khủng hoảng, Mỹ chấm dứt chương trình không thám và tháo gỡ dàn hỏa tiễn tại Thổ Nhĩ Kỳ đang đe dọa Liên Sô, trong khi Mỹ... không được gì ngoài việc mấy dàn hoả tiễn tại Cuba được tháo gỡ. Chẳng ai biết vài cái hỏa tiễn được Liên Sô cố tình cho chụp hình có đầu đạn nguyên tử thật hay không.

Thành tích vẻ vang nhất của TT Kennedy dường như phải nói là thành tích lớn nhất của vua phé cáo già Krushchev.

CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Trong vấn đề vai trò của TT Kennedy trong chiến tranh Việt Nam, có ba câu hỏi lớn, mà cho đến nay, qua việc giải mật của hàng triệu tài liệu, vẫn chưa có ai có kết luận cuối cùng, không tranh cãi được nữa.

Câu hỏi đầu tiên là tại sao TT Kennedy gia tăng cường độ tham dự vào cuộc chiến tại Việt Nam? Để trả lời câu hỏi này, ta phải nhìn lại thời gian tính. Đúng một ngày sau khi vụ Vịnh Con Heo thất bại và TT Kennedy lên truyền hình nhận trách nhiệm, ông ra lệnh thành lập một nhóm công tác đặc biệt –special task force- nghiên cứu chương trình ngăn cản cộng sản chiếm miền Nam VN.

Nôm na ra, TT Kennedy quyết định can thiệp mạnh mẽ vào cuộc chiến VN một phần vì lý tưởng can thiệp cứu giúp thiên hạ theo đúng quan điểm cấp tiến, cũng như đáp ứng đòi hỏi của cuộc chạy đua ảnh hưởng Mỹ-Nga thời đó, nhưng lý do chính là để cứu vớt uy tín cá nhân bị đổ vỡ theo thất bại của Vịnh Con Heo.

Quyết định này mở màn cho cuộc tham chiến lâu dài, tốn kém tiền bạc và nhân mạng, gây tranh cãi nhiều nhất, và cuối cùng là thảm bại đầu tiên của quân đội Mỹ trong một cuộc chiến.

Câu hỏi thứ hai là vai trò của TT Kennedy trong cuộc đảo chánh 63, và nhất trong cái chết của TT Diệm. Qua những tài liệu giải mật, chuyện TT Kennedy “bật đèn xanh” cho các tướng đảo chánh đã vào lịch sử, không ai chối cãi hay thắc mắc gì nữa. Vấn đề là TT Kennedy có đồng ý cho giết TT Diệm hay không.

Ở đây, vấn đề vẫn còn đang được tranh cãi. Người thì khẳng định cái chết của TT Diệm là một cú shock lớn lao đối với TT Kennedy và ông đã rất bực tức các tướng lãnh VN. Người khác thì cho rằng ông đã thông đồng với các tướng lãnh giết ông Diệm.

Nước Mỹ có truyền thống dân chủ, thay đổi lãnh đạo thường xuyên, hoàn toàn trong tôn ti trật tự của thể chế dân chủ và Hiến Pháp. Đảo chánh là chuyện khó hiểu. Giết đối lập chính trị lại càng vô lý, không thể chấp nhận được. Trong môi trường đó, khó mà chúng ta có thể nói TT Kennedy đã thông đồng với các tướng lãnh, hay thậm chí “ra lệnh” cho họ giết TT Diệm. Như vậy thì có lý do để tin TT Kennedy không can dự trực tiếp đến cái chết của TT Diệm, không biết gì và không dính dáng gì đến cái chết này mặc dù ông chấp nhận đảo chánh.

Nếu đây là sự thật thì phải nói TT Kennedy quả là tay mơ chính trị nếu không muốn nói là ngây ngô. Mỹ có câu “muốn làm trứng chiên, phải đập vỏ”. Nếu TT Kennedy nghĩ có thể làm một cuộc đảo chính lật đổ một chế độ độc tài, với cả ngàn quân nhân súng ống võ trang đầy đủ mà không đưa đến giết người, như đi ăn tiệc sinh nhật, thì TT Kennedy chẳng hiểu biết gì về chính trị Á Đông hay về chính trị ngoài thể chế dân chủ kiểu Mỹ. Cho dù ông không kinh nghiệm, nhưng quanh ông, vẫn có biết bao cố vấn, làm sao họ không biết hay không đoán được nguy cơ TT Diệm bị giết? Kẻ viết này tin là TT Kennedy đã được cảnh báo đẩy đủ, dù ông không chủ ý nhưng đã chấp nhận cái “rủi ro” lớn là TT Diệm có thể bị giết. Tức là ông đã chấp nhận đó là cái giá phải trả, tức là ông không có “oan Thị Kính” gì trong vụ giết TT Diệm. Không ra lệnh, nhưng chấp nhận rủi ro.

Câu hỏi thứ ba là TT Kennedy có đang tính chuyện rút ra khỏi VN trước khi ông bị ám sát không. Ở đây có nhiều sách báo khẳng định ông đã có ý định này. Thậm chí, còn có giả thuyết ông bị ám sát chính vì ý định muốn rút này nên đã bị khối diều hâu/quân đội ám sát chết để bảo đảm cuộc chiến VN sẽ tăng cường độ để bán vũ khí hay thử nghiệm các chiến lược quân sự chống CS.

Đã có một cuốn sách được viết, khẳng định TT Kennedy đã có ý định rút. Bằng cớ đưa ra là một chỉ thị của TT Kennedy ra lệnh Bộ Quốc Phòng lập một kế hoặch rút toàn diện hết các cố vấn quân sự về. Việc ra lệnh này chắc là có thật, nhưng nếu dựa trên lệnh đó mà nói TT Kennedy chuẩn bị rút ra khỏi VN thì có hơi võ đoán. Trong tư thế lãnh đạo, TT Kennedy phải có chuẩn bị cho mọi tình huống. Do đó việc ông ra lệnh làm kế hoạch rút quân không có gì là lạ, và cũng không mang ý nghiã đặc biệt gì. Chưa phải là lệnh rút, mà chỉ là lập kế hoặch dự phòng có thể rút. Chắc chắc ngoài lệnh đó ra, ông cũng đã ra lệnh làm kế hoặch đổ nửa triệu lính Mỹ vào VN hay thậm chí đổ bộ thủy quân lục chiến vào Vịnh Hạ Long không chừng.

Thực tế chuyện TT Kennedy muốn rút là khó tin. TT Kennedy chỉ cần viện lý do TT Diệm độc tài, đàn áp Phật Giáo, chấm dứt viện trợ TT Diệm là xong. Không cần phải rắc rối phê chuẩn việc lật đổ TT Diệm, mang tai mang tiếng là đế quốc để rồi sau đó làm kế hoặch rút ra khỏi VN. Hậu thuẫn đảo chánh làm gì nếu đã tính rút lui? Nói cách khác, TT Kennedy vẫn bị ám ảnh bởi thất bại hai lần tại Cuba, nên muốn vạch lằn ranh, nhất định mạnh mẽ ngăn chặn làn sóng đỏ tại VN. Nếu ông không bị ám sát, có nhiều triển vọng chính sách của ông cũng sẽ như chính sách của TT Johnson sau này thôi. Ta cũng không thể quên những tác giả của chính sách của TT Johnson tại VN là bộ trưởng quốc phòng McNamara, ngoại trưởng Dean Rusk, cố vấn an ninh Bundy,... đều là người của ê-kíp Kennedy.

Cả ba câu chuyện tuy khác nhau, nhưng tóm gọn đầy đủ câu chuyện cuộc chiến VN, và là đáp số cho câu hỏi tại sao miền Nam thất bại, tại sao quân lực VNCH thua. Chỉ vì chính quyền miền Nam, cho dù dưới thời đệ nhất hay đệ nhị Cộng Hòa, chưa khi nào thực sự có chủ quyền trọn vẹn, có quyền quyết định đánh hay không đánh, đánh theo kiểu nào, đánh cho quyền lợi đất nước ta hay đánh vì quyền lợi Mỹ. Cũng như quân lực VNCH, chưa bao giờ được huấn luyện và hỗ trợ theo nhu cầu thực sự của cuộc chiến, mà chỉ là theo nhu cầu của chiến lược, chiến thuật của Mỹ. Khi Mỹ muốn đánh thì cấp súng đạn cho ta đánh, khi Mỹ muốn tháo chạy thì mang súng đạn về, kể cả ngòi bom CBU.

Nếu ta nhìn vào ba quyết định lớn của TT Kennedy nêu trên, trong cả ba trường hợp, đều không có yếu tố Việt Nam trong đó, tức là chuyện chính quyền VN và dân VN có cùng ý không, can dự hay không can dự có lợi hay có hại cho nước và dân VN như thế nào,... Tuyệt đối không cân nhắc những chuyện này, mà chỉ cân nhắc quyền lợi của Mỹ ở đâu thôi. Trong cuộc chiến này, đồng minh chỉ tính toán theo quyền lợi của họ thôi, chứ ít thắc mắc về sự sống còn của chúng ta. Khi Kissinger nói chuyện được với Mao là lúc quyền lợi chiến lược Mỹ được bảo đảm, VN thành con chốt thừa.

Người Việt chúng ta có quyền cảm mến cái hào hoa của TT Kennedy và cái tài ăn nói của ông, nhưng chỉ trong tư cách tổng thống Mỹ thôi. Còn nhìn dưới khiá cạnh Việt, ông không khác gì các TT Johnson, Nixon, hay Ford: VN chỉ là con chốt trong thế cờ chiến lược toàn cầu của Mỹ. Cần giữ thì giữ, cần thí là thí.

Nói tóm lại, hình ảnh huy hoàng đẹp đẽ của TT Kennedy chỉ là dàn diễn do truyền thông cấp tiến dựng lên, trong khi thực tế TT Kennedy không thần thánh như tưởng tượng. Trong 1.000 ngày nắm quyền, ông chỉ để lại những diễn văn hùng hồn nhất, hình ảnh một tổng thống trẻ tuổi, đẹp trai, vợ đẹp con khôn, trong khi thành quả cụ thể thì... thất bại nhiều hơn thành công. Ông là người đã quyết định can thiệp vào cuộc chiến VN, đi xa đến độ chấp nhận hy sinh TT Diệm khi thấy ông này là một trở ngại cho chiến lược chống cộng của Mỹ. TT Kennedy chết đi để lại những câu hỏi không có câu trả lời như nếu ông ngay từ đầu không can dự vào VN, hay nếu ông sống, thì chiến tranh VN sẽ như thế nào? (24-11-13)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Ý kiến bạn đọc
26/11/201308:00:00
Khách
The guy i s a lo o se r !!!
Thanks Mr. Vu Linh
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.