Hôm nay,  

Huyền Thoại Kennedy

26/11/201300:00:00(Xem: 12147)
...lý do thất bại là TT Kennedy quyết định đánh một cách đánh nửa vời, vừa đánh vừa run...

Tuần vừa qua đánh dấu đúng 50 năm kỷ niệm TT Kennedy bị ám sát chết.

Đối với người Việt chúng ta, tháng này cũng đánh dấu một cái chết quan trọng hơn nhiều. Đó là cái chết của TT Ngô Đình Diệm và em là ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Cái chết của anh em ông Diệm là cái chết đổi đời, thay đổi hẳn một chế độ, và đã có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng cho đất nước. Người ta có thể tranh luận đến vô tận, nhưng không ai có câu trả lời nếu TT Diệm không bị đảo chánh và không bị giết thì nước ta bây giờ như thế nào. Cuộc tranh luận này, xin nhường lại cho các vị sử gia uyên bác. Trong bài này, chúng ta chỉ bàn về TT Kennedy.

TT John Fitzgerald Kennedy là vị tổng thống đã tại chức ngắn nhất trong lịch sử cận đại Mỹ, vỏn vẹn ba năm, nhưng lại là vị tổng thống để lại nhiều dấu ấn lịch sử nhất. Riêng đối với vấn đề Việt Nam, ông là người đã thay đổi cuộc diện chiến tranh Việt Nam.

Việc ông bị ám sát đã chấn động nước Mỹ và cả thế giới như chưa một biến cố nào có thể có ảnh hưởng lớn như vậy, ngoại trừ đại chiến thế giới, sự sụp đổ của chế độ CS, hay vụ 9/11.

Sau đó, thì có lẽ chưa có tổng thống Mỹ nào được ca tụng, thần thánh hoá như TT Kennedy. Ông được ca tụng như một trong những tổng thống tài giỏi nhất lịch sử Mỹ, với những bài diễn văn hùng hồn, xúc động cả triệu người trên thế giới. “Đừng hỏi đất nước này đã làm gì cho bạn, mà hãy tự hỏi bạn đã làm gì cho đất nước này”. “Hãy để tất cả các nước trên thế giới này biết, cho dù họ muốn tốt hay muốn xấu cho chúng ta, là chúng ta sẽ trả mọi giá, chịu mọi gánh nặng, hứng mọi khổ cực để hỗ trợ mọi nước bạn, chống mọi kẻ thù, để bảo đảm sự tồn tại và thành công của tự do”.

Một người đã lãnh đạo thế giới tự do đứng lên chống làn sóng đỏ tại Cuba, Bá Linh, và Việt Nam. Một người cũng đã đi tiên phong trong việc nới rộng cánh tay nhân đạo Mỹ, đi cứu giúp cả thế giới chậm tiến qua chương trình Peace Corps, với cả ngàn thanh niên thiện nguyện Mỹ đi giúp dân nghèo đói, bệnh tật khắp thế giới. Một người đã mở rộng biên cương mới của nước Mỹ khi mở ra chương trình thám hiểm không gian.

Đó là hình ảnh của TT Kennedy qua con mắt của truyền thông cấp tiến. Sự thật như thế nào? Ta hãy xét qua vài biến cố lớn nhất dưới triều đại Kennedy.

VỊNH CON HEO

TT Kennedy tuyên thệ nhậm chức đầu tháng Hai năm 1961. Chưa đầy hai tháng sau, xẩy ra biến cố Vịnh Con Heo.

Công bằng mà nói, TT Kennedy bị đặt vào thế chuyện đã rồi, khó làm gì khác được. Trước hiểm hoạ cộng sản sát nách tại Cuba, giữa cuộc chiến tranh lạnh cực kỳ căng thẳng của thập niên 60, đây là một đe dọa trực tiếp cho nước Mỹ. TT Eisenhower quyết định phải lật đổ Fidel Castro, chấm dứt mối đe dọa thường trực trong sân sau nhà. Theo kế hoạch, Mỹ sẽ giúp một nhóm vài ngàn chí nguyện quân trong khối dân Cuba đang tỵ nạn tại Mỹ. Họ sẽ được Mỹ huấn luyện, tài trợ, rồi đổ bộ lên Vịnh Con Heo tại Cuba, tấn công và lật đổ Castro. Kế hoạch còn đang được soạn thảo khi TT Kennedy đắc cử, và ngay sau đó được hoàn tất. Tân TT Kennedy bị đặt vào thế phải quyết định tiến hành hay không.

Trong suốt cuộc tranh cử chống PTT Nixon, TNS Kennedy đã bị phe Cộng Hòa tô vẽ như một người ngây thơ, không có kinh nghiệm chính trị quốc tế, yếu đuối, sẽ bị Krushchev bóp mũi. Với hình ảnh đó, TT Kennedy không có lựa chọn nào khác trước thử thách quốc tế quan trọng đầu tiên. Ông quyết định đánh.

Theo kế hoạch, Mỹ sẽ cho phi cơ đánh không lực Castro trước, rồi tiếp thả bom diệt quân của Castro, và nếu chẳng may đổ bộ thất bại, thì đổ tàu vào cứu nhóm nghiã quân.

Cuộc đánh bom đầu tiên thất bại, chỉ tiêu hủy được một vài chiếc máy bay của Castro. Cuộc đổ bộ 1.400 quân kháng chiến Cuba cũng thất bại nặng khi Castro cho máy bay thả bom và bắn quân kháng chiến đang nằm trơ trên bãi cát. Hai chiếc tàu lớn chở súng đạn tiếp tế đậu ngoài khơi cũng bị đánh chìm. Kháng chiến quân bị đe dọa tiêu diệt hoàn toàn. Cầu cứu Mỹ. TT Kennedy lên cơn rét, đổi quyết định, ra lệnh quân lực Mỹ không được cứu giúp dưới bất cứ hình thức nào. Toàn bộ khối quân kháng chiến hoặc bị giết, hoặc bị bắt cầm tù.

Truyền thông phe ta xúm lại đổ lỗi cho CIA và Ngũ Giác Đài đã cài TT Kennedy trong thế kẹt, rồi ca tụng TT Kennedy đã không sa lầy trong cái bẫy của CIA. Không ai nói đến chyện TT Kennedy có quyền hủy toàn bộ kế hoặch, mà ông đã không làm vì sợ mang tiếng yếu đuối.

Mấy năm sau, các sử gia nghiên cứu thấy lý do thất bại là TT Kennedy quyết định đánh một cách đánh nửa vời, vừa đánh vừa run, tìm đường tháo chạy. Kết quả là trước thử thách đầu tiên, TT Kennedy đã hoàn toàn thảm bại, cả trăm quân kháng chiến bị chết, cả ngàn còn lại bị tù đầy. TT Kennedy tuyên bố hùng hồn “trả mọi giá... để bảo đảm... tự do”: coi dzậy mà hổng phải dzậy!

KHỦNG HOẢNG HOẢ TIỄN NGUYÊN TỬ

Trước thắng lợi trọn vẹn tại Vịnh Con Heo, Castro thừa thắng xông lên, bắt tay với Liên Sô, cho Liên Sô lập mấy dàn hỏa tiễn có đầu đạn nguyên tử và có tầm bắn tới New York và Washington. Tình báo Mỹ chụp hình thấy rõ ràng. Không thể ngồi yên trước đe dọa trực tiếp và cụ thể này nữa, TT Kennedy ra lệnh phong tỏa Cuba, chặn tất cả các tầu vào Cuba, và điều đình với Krushchev. Quân đội Mỹ khắp thế giới báo động đỏ cấp cao nhất. Thế giới bên bờ vực của thế chiến thứ ba, lần này khủng khiếp hơn nhiều vì là giữa hai cường quốc đều có bom nguyên tử. Dân Mỹ xanh mặt vì nguy cơ lãnh bom nguyên tử thật sự, chứ không còn là đánh nhau trên vài hòn đảo tuốt tuột bên kia Thái Bình Dương như thời thế chiến.

Vài ngày sau, Krushchev ra lệnh tháo gỡ các dàn hỏa tiễn, mang về Liên Sô. Truyền thông tung hô TT Kennedy như người đã đại thắng, ép được tên điên khùng nguy hiểm Krushchev vào đường cùng phải chịu thua. Một lãnh tụ cực tài giỏi, bình tĩnh, can đảm, cứu được nước Mỹ mà không tốn một viên đạn, chứ đừng nói tới chuyện tránh được bom nguyên tử.

Cũng chỉ mấy năm sau, những tài liệu được giải mật cho thấy thực sự TT Kennedy đã... thua đậm. Thua vì không bứng được cái gai Castro ngay bên hông, vẫn tồn tại cho đến ngày nay, hơn nửa thế kỷ sau. Nhưng quan trọng hơn nhiều là thua vì ông đã nhượng bộ hai đòi hỏi của Krushchev: 1) Mỹ phải chấm dứt chương trình không thám U-2 trên lãnh thổ Nga và Đông Âu, và 2) Mỹ phải tháo gỡ toàn bộ dàn hoả tiễn nguyên tử đã dựng lên từ sau thế chiến tại Thổ Nhĩ Kỳ nhắm vào các thành phố lớn và các địa điểm chiến lược quan trọng nhất của Liên Sô.

Nói cách khác, Krushchev vướng vào hai cái gai đó, không biết cách nào gỡ được dưới thời TT Eisenhower, bây giờ mang hoả tiễn nguyên tử vào Cuba để hù dọa và đổi chác với Kennedy, và TT Kennedy đã nhượng bộ, đáp ứng tất cả đòi hỏi của Krushchev. Chuyện Krushchev công khai lập dàn hỏa tiễn, chẳng dấu diếm gì là bằng chứng rõ ràng Krushchev muốn cho Mỹ biết để có dịp đổi chác trả giá. Kết quả cuộc khủng hoảng, Mỹ chấm dứt chương trình không thám và tháo gỡ dàn hỏa tiễn tại Thổ Nhĩ Kỳ đang đe dọa Liên Sô, trong khi Mỹ... không được gì ngoài việc mấy dàn hoả tiễn tại Cuba được tháo gỡ. Chẳng ai biết vài cái hỏa tiễn được Liên Sô cố tình cho chụp hình có đầu đạn nguyên tử thật hay không.

Thành tích vẻ vang nhất của TT Kennedy dường như phải nói là thành tích lớn nhất của vua phé cáo già Krushchev.

CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Trong vấn đề vai trò của TT Kennedy trong chiến tranh Việt Nam, có ba câu hỏi lớn, mà cho đến nay, qua việc giải mật của hàng triệu tài liệu, vẫn chưa có ai có kết luận cuối cùng, không tranh cãi được nữa.

Câu hỏi đầu tiên là tại sao TT Kennedy gia tăng cường độ tham dự vào cuộc chiến tại Việt Nam? Để trả lời câu hỏi này, ta phải nhìn lại thời gian tính. Đúng một ngày sau khi vụ Vịnh Con Heo thất bại và TT Kennedy lên truyền hình nhận trách nhiệm, ông ra lệnh thành lập một nhóm công tác đặc biệt –special task force- nghiên cứu chương trình ngăn cản cộng sản chiếm miền Nam VN.

Nôm na ra, TT Kennedy quyết định can thiệp mạnh mẽ vào cuộc chiến VN một phần vì lý tưởng can thiệp cứu giúp thiên hạ theo đúng quan điểm cấp tiến, cũng như đáp ứng đòi hỏi của cuộc chạy đua ảnh hưởng Mỹ-Nga thời đó, nhưng lý do chính là để cứu vớt uy tín cá nhân bị đổ vỡ theo thất bại của Vịnh Con Heo.

Quyết định này mở màn cho cuộc tham chiến lâu dài, tốn kém tiền bạc và nhân mạng, gây tranh cãi nhiều nhất, và cuối cùng là thảm bại đầu tiên của quân đội Mỹ trong một cuộc chiến.

Câu hỏi thứ hai là vai trò của TT Kennedy trong cuộc đảo chánh 63, và nhất trong cái chết của TT Diệm. Qua những tài liệu giải mật, chuyện TT Kennedy “bật đèn xanh” cho các tướng đảo chánh đã vào lịch sử, không ai chối cãi hay thắc mắc gì nữa. Vấn đề là TT Kennedy có đồng ý cho giết TT Diệm hay không.

Ở đây, vấn đề vẫn còn đang được tranh cãi. Người thì khẳng định cái chết của TT Diệm là một cú shock lớn lao đối với TT Kennedy và ông đã rất bực tức các tướng lãnh VN. Người khác thì cho rằng ông đã thông đồng với các tướng lãnh giết ông Diệm.

Nước Mỹ có truyền thống dân chủ, thay đổi lãnh đạo thường xuyên, hoàn toàn trong tôn ti trật tự của thể chế dân chủ và Hiến Pháp. Đảo chánh là chuyện khó hiểu. Giết đối lập chính trị lại càng vô lý, không thể chấp nhận được. Trong môi trường đó, khó mà chúng ta có thể nói TT Kennedy đã thông đồng với các tướng lãnh, hay thậm chí “ra lệnh” cho họ giết TT Diệm. Như vậy thì có lý do để tin TT Kennedy không can dự trực tiếp đến cái chết của TT Diệm, không biết gì và không dính dáng gì đến cái chết này mặc dù ông chấp nhận đảo chánh.

Nếu đây là sự thật thì phải nói TT Kennedy quả là tay mơ chính trị nếu không muốn nói là ngây ngô. Mỹ có câu “muốn làm trứng chiên, phải đập vỏ”. Nếu TT Kennedy nghĩ có thể làm một cuộc đảo chính lật đổ một chế độ độc tài, với cả ngàn quân nhân súng ống võ trang đầy đủ mà không đưa đến giết người, như đi ăn tiệc sinh nhật, thì TT Kennedy chẳng hiểu biết gì về chính trị Á Đông hay về chính trị ngoài thể chế dân chủ kiểu Mỹ. Cho dù ông không kinh nghiệm, nhưng quanh ông, vẫn có biết bao cố vấn, làm sao họ không biết hay không đoán được nguy cơ TT Diệm bị giết? Kẻ viết này tin là TT Kennedy đã được cảnh báo đẩy đủ, dù ông không chủ ý nhưng đã chấp nhận cái “rủi ro” lớn là TT Diệm có thể bị giết. Tức là ông đã chấp nhận đó là cái giá phải trả, tức là ông không có “oan Thị Kính” gì trong vụ giết TT Diệm. Không ra lệnh, nhưng chấp nhận rủi ro.

Câu hỏi thứ ba là TT Kennedy có đang tính chuyện rút ra khỏi VN trước khi ông bị ám sát không. Ở đây có nhiều sách báo khẳng định ông đã có ý định này. Thậm chí, còn có giả thuyết ông bị ám sát chính vì ý định muốn rút này nên đã bị khối diều hâu/quân đội ám sát chết để bảo đảm cuộc chiến VN sẽ tăng cường độ để bán vũ khí hay thử nghiệm các chiến lược quân sự chống CS.

Đã có một cuốn sách được viết, khẳng định TT Kennedy đã có ý định rút. Bằng cớ đưa ra là một chỉ thị của TT Kennedy ra lệnh Bộ Quốc Phòng lập một kế hoặch rút toàn diện hết các cố vấn quân sự về. Việc ra lệnh này chắc là có thật, nhưng nếu dựa trên lệnh đó mà nói TT Kennedy chuẩn bị rút ra khỏi VN thì có hơi võ đoán. Trong tư thế lãnh đạo, TT Kennedy phải có chuẩn bị cho mọi tình huống. Do đó việc ông ra lệnh làm kế hoạch rút quân không có gì là lạ, và cũng không mang ý nghiã đặc biệt gì. Chưa phải là lệnh rút, mà chỉ là lập kế hoặch dự phòng có thể rút. Chắc chắc ngoài lệnh đó ra, ông cũng đã ra lệnh làm kế hoặch đổ nửa triệu lính Mỹ vào VN hay thậm chí đổ bộ thủy quân lục chiến vào Vịnh Hạ Long không chừng.

Thực tế chuyện TT Kennedy muốn rút là khó tin. TT Kennedy chỉ cần viện lý do TT Diệm độc tài, đàn áp Phật Giáo, chấm dứt viện trợ TT Diệm là xong. Không cần phải rắc rối phê chuẩn việc lật đổ TT Diệm, mang tai mang tiếng là đế quốc để rồi sau đó làm kế hoặch rút ra khỏi VN. Hậu thuẫn đảo chánh làm gì nếu đã tính rút lui? Nói cách khác, TT Kennedy vẫn bị ám ảnh bởi thất bại hai lần tại Cuba, nên muốn vạch lằn ranh, nhất định mạnh mẽ ngăn chặn làn sóng đỏ tại VN. Nếu ông không bị ám sát, có nhiều triển vọng chính sách của ông cũng sẽ như chính sách của TT Johnson sau này thôi. Ta cũng không thể quên những tác giả của chính sách của TT Johnson tại VN là bộ trưởng quốc phòng McNamara, ngoại trưởng Dean Rusk, cố vấn an ninh Bundy,... đều là người của ê-kíp Kennedy.

Cả ba câu chuyện tuy khác nhau, nhưng tóm gọn đầy đủ câu chuyện cuộc chiến VN, và là đáp số cho câu hỏi tại sao miền Nam thất bại, tại sao quân lực VNCH thua. Chỉ vì chính quyền miền Nam, cho dù dưới thời đệ nhất hay đệ nhị Cộng Hòa, chưa khi nào thực sự có chủ quyền trọn vẹn, có quyền quyết định đánh hay không đánh, đánh theo kiểu nào, đánh cho quyền lợi đất nước ta hay đánh vì quyền lợi Mỹ. Cũng như quân lực VNCH, chưa bao giờ được huấn luyện và hỗ trợ theo nhu cầu thực sự của cuộc chiến, mà chỉ là theo nhu cầu của chiến lược, chiến thuật của Mỹ. Khi Mỹ muốn đánh thì cấp súng đạn cho ta đánh, khi Mỹ muốn tháo chạy thì mang súng đạn về, kể cả ngòi bom CBU.

Nếu ta nhìn vào ba quyết định lớn của TT Kennedy nêu trên, trong cả ba trường hợp, đều không có yếu tố Việt Nam trong đó, tức là chuyện chính quyền VN và dân VN có cùng ý không, can dự hay không can dự có lợi hay có hại cho nước và dân VN như thế nào,... Tuyệt đối không cân nhắc những chuyện này, mà chỉ cân nhắc quyền lợi của Mỹ ở đâu thôi. Trong cuộc chiến này, đồng minh chỉ tính toán theo quyền lợi của họ thôi, chứ ít thắc mắc về sự sống còn của chúng ta. Khi Kissinger nói chuyện được với Mao là lúc quyền lợi chiến lược Mỹ được bảo đảm, VN thành con chốt thừa.

Người Việt chúng ta có quyền cảm mến cái hào hoa của TT Kennedy và cái tài ăn nói của ông, nhưng chỉ trong tư cách tổng thống Mỹ thôi. Còn nhìn dưới khiá cạnh Việt, ông không khác gì các TT Johnson, Nixon, hay Ford: VN chỉ là con chốt trong thế cờ chiến lược toàn cầu của Mỹ. Cần giữ thì giữ, cần thí là thí.

Nói tóm lại, hình ảnh huy hoàng đẹp đẽ của TT Kennedy chỉ là dàn diễn do truyền thông cấp tiến dựng lên, trong khi thực tế TT Kennedy không thần thánh như tưởng tượng. Trong 1.000 ngày nắm quyền, ông chỉ để lại những diễn văn hùng hồn nhất, hình ảnh một tổng thống trẻ tuổi, đẹp trai, vợ đẹp con khôn, trong khi thành quả cụ thể thì... thất bại nhiều hơn thành công. Ông là người đã quyết định can thiệp vào cuộc chiến VN, đi xa đến độ chấp nhận hy sinh TT Diệm khi thấy ông này là một trở ngại cho chiến lược chống cộng của Mỹ. TT Kennedy chết đi để lại những câu hỏi không có câu trả lời như nếu ông ngay từ đầu không can dự vào VN, hay nếu ông sống, thì chiến tranh VN sẽ như thế nào? (24-11-13)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Ý kiến bạn đọc
26/11/201308:00:00
Khách
The guy i s a lo o se r !!!
Thanks Mr. Vu Linh
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.