Hôm nay,  

Phụ Nữ Kỵ Cộng Hòa?

22/04/201400:00:00(Xem: 7595)

...hơn 70% các cố vấn, phụ tá, nhân viên nội các của TT Obama là nam giới...

Nếu quý độc giả theo dõi truyền thông, báo chí hay truyền hình ở cái xứ Mỹ này, thì sẽ có cảm tưởng đúng là vậy, phụ nữ Mỹ rất kỵ đảng Cộng Hòa cũng như những tư tưởng bảo thủ gọi là không thân thiện với phụ nữ. Như Cộng Hoà chủ trương không giúp “giải phóng” phụ nữ, giam hãm họ trong tư thế công dân hạng hai so với các đấng mày râu trong vấn đề lương bổng và trách nhiệm trong công việc làm, cũng như giam hãm phụ nữ trong trách nhiệm gia đình, không cho họ có quyền “tự do sở hữu thân xác” của họ, hay nói cho rõ hơn, không cho họ vui vẻ rồi tha hồ phá thai.

Khối cấp tiến cho rằng trong con mắt bảo thủ, đàn bà chỉ nên ở nhà lo cho con và phục vụ cho đức lang quân, cơm nước rồi đấm bóp cho mấy ông, sau một ngày mấy ông mệt mỏi kiếm tiền cho mấy bà đi shopping. Nếu có đi làm thì không đáng lãnh lương bằng mấy ông.

Thực tế, hình ảnh một người đàn bà theo kiểu nô lệ cho chồng chỉ có trong xã hội Việt Nam ta cách đây có lẽ nửa thế kỷ, mà cũng chỉ có trong những gia đình gọi là khá giả thôi. Như các quan rủng rỉnh tiền bạc, quyền thế, nên các bà vợ có quyền ngồi nhà đánh tứ sắc cả ngày chờ ông chồng về để phục vụ. Chứ trong giới bình dân hơn, phụ nữ Việt ta từ ngàn xưa đến nay, vẫn đầu tắp mặt tối làm việc, phần lớn là buôn bán lớn nhỏ, góp tiền nuôi gia đình, chắc chắn là đã không làm ít hơn mấy ông chồng, rồi về đến nhà lại còn phải quần quật làm đầu bếp, quản gia, “ô-sin”, vú em, cô giáo kèm con học, có khi còn phải hầu cả bố mẹ chồng,... chưa kể tối đến lại còn phải lo bổn phận “phòng the”.

Ngay cả trong xã hội “văn minh” Việt Nam ngày nay, dưới sự lãnh đạo “đại tài” của Nhà Nước ta, theo tuyên truyền của đảng thì thời buổi phong kiến trọng nam khinh nữ đã qua từ lâu rồi, nhưng trên thực tế thì lương các bà phải dành lo cho nhà cửa, chợ búa, quần áo, con cái,..., còn lương các ông thì chỉ để cúng vào các quán nhậu mỗi chiều với bạn bè, hay karaoke mỗi tối với các em chân dài thôi, các bà thắc mắc tới là... ăn đòn ngay, có gọi công an đến cũng như không vì chính mấy ông công an này đánh vợ còn mạnh hơn ai hết.

Dân tỵ nạn ta may mắn thoát được lối sống “văn minh XHCN” đó. Các bà tuy không bị đòn nữa, nhưng cật lưng làm việc chẳng thua gì mấy ông chồng, trong khi đồng lương mang về thì vẫn thua xa.

TT Obama mới đây có nêu vấn đề này lên và cho biết đồng lương của mấy bà theo thống kê, chỉ bằng 77% của mấy ông thôi. Con số thống kê do TT Obama đưa ra không chính xác lắm, có tính cách phóng đại vì so sánh một cách tổng quát mà không lưu ý đến chuyện có nhiều nghề lương cao mà không có sự hiện diện nhiều của mấy bà. Chẳng hạn như cấp lãnh đạo cao cấp của các công ty, hay những nghề nặng nhọc lương cao như thợ hầm mỏ, xây cất, thợ máy, v.v... mà phụ nữ, vì sức mạnh thể xác yếu hơn không kham nổi.

Đúng theo mô thức của một chính trị gia, TT Obama dùng những thống kê “ấn tượng” nhất để làm nổi bật vấn đề, rồi nhân tiện lái qua vấn đề phe phái, ám chỉ sai biệt là hậu quả của chính sách kỳ thị của các tài phiệt, các ông chủ hủ lậu, vẫn sống trong các quan điểm kỳ thị nam nữ của thiên niên kỷ trước. Ý muốn ám chỉ khối bảo thủ Cộng Hoà, trong khi khối cấp tiến Dân Chủ lo bênh vực quyền lợi phụ nữ mạnh hơn.

Theo các chuyên gia, một cách chính xác hơn thì trong điều kiện đồng đều, có thể so sánh được, phụ nữ lãnh lương bằng khoản 85%-90% lương của nam giới. Tuy cao hơn con số của TT Obama đưa ra, nhưng hiển nhiên, vẫn không bằng lương của mấy ông, tức là có khác biệt, thiên về nam giới.

Bà Gloria Steinem, một người cấp tiến cực đoan, chuyên tranh đấu cho bình đẳng nam nữ đến độ tuyệt đối, đã vận động chống lại mọi nghiên cứu về khác biệt nam nữ, vì bà quan niệm tuyệt đối chẳng có gì khác biệt giữa nam nữ để cần phải nghiên cứu.

Đây là quan niệm cực đoan thái quá đối với rất nhiều người. Giữa nam và nữ, hiển nhiên là có cả đại dương khác biệt. Không phải về thể xác không, mà về tinh thần cũng như về suy tư, về ưu tiên cũng như sở thích. Điều này chẳng cần bàn thêm, và bà Steinem nếu không nhìn thấy thì chỉ vì bà đúng là... quá khích, không muốn nhìn thấy thôi. Kiểu như đà điểu muốn vùi đầu dưới cát để tránh nhìn vào thực tế.

Ngay cả trong mấy đứa trẻ con mới bắt đầu tập tễnh biết đi, ta cũng thấy những khác biệt bẩm sinh. Như con gái thích quần áo đẹp trong khi con trai bất cần, con gái tự động thích chơi với son phấn, dày cao gót của mẹ, trong khi con trai chẳng thèm liếc mắt tới.

Đại khái, khác biệt có, nhưng nếu nói chuyện đó ra trong cái xứ Mỹ này, thế nào cũng bị coi là “không phải đạo chính trị” –politically incorrect. Cũng không khác gì chuyện da màu. Khác biệt giữa các sắc dân da trắng, da vàng, da đen, ai cũng nhìn thấy, ai cũng biết. Chỉ là không dám nói lên vì sợ mang trọng tội “không phải đạo chính trị”.

Trở lại vấn đề khác biệt lương giữa nam và nữ. Ngay cả trong cùng ngành nghề, cùng chức, cùng trách nhiệm, lương phụ nữ cũng thấp hơn lương nam giới.

Có nhiều nghiên cứu đã được thực hiện, cho thấy có nhiều lý do, chính đáng cũng như không chính đáng.

Lý do không chính đáng là... hồi nào đến giờ, đàn bà lãnh lương ít hơn là đương nhiên, truyền thống là như vậy, xét lại làm gì. Mấy ông chủ không có lý do gì xét lại, tự ý tăng lương cho nữ nhân viên khiến cho công ty của mình lời ít đi, tiền vào túi mình ít đi theo. Các bà đại đa số cũng chấp nhận cái tập tục quen thuộc đó, ít người muốn tranh đấu đòi tăng lương.

Cái lý do có lẽ chính đáng hơn là với phụ nữ, năng suất thường không bằng đàn ông. Trong khi các ông có thể tập trung suy tư 100% vào công việc, thì các bà không thể nào làm như vậy được. Đối với phụ nữ, việc làm công ty luôn luôn chỉ là ưu tiên thứ nhì hay thứ ba. Gia đình, con cái mới là ưu tiên số một. Họ đi làm nhưng đầu óc lúc nào cũng thắc mắc tối nay cơm nước như thế nào cho chồng, con cái giờ này đang ở trường làm gì, …. Nhất là phụ nữ Á Đông khi cái xã hội đó quan niệm trách nhiệm đi làm kiếm tiền nuôi gia đình là của mấy ông, mấy bà phải lo cho gia đình, kiếm tiền chỉ là chuyện kiếm thêm, có thì tốt hơn, không có cũng được.

Chính vì lý do gia đình mà khá nhiều phụ nữ tình nguyện nhận việc bán thời, hay làm việc tại gia, ít lương hơn mức lương toàn thời tại công ty.

Một nghiên cứu của một trường đại học cho thấy trong 500 đại công ty lớn nhất Mỹ, chỉ có 5% là do phụ nữ lãnh đạo. Nghiên cứu cũng cho thấy mấy ông tổng giám đốc mấy đại công ty này làm việc cho công ty không phải là 8 tiếng một ngày, mà trung bình 16 tiếng, hay thậm chí 20 tiếng, có khi ngủ cũng chỉ nằm mơ thấy công việc của công ty. Chuyện này khó có thể xẩy ra với các bà, thông thường chỉ làm đúng 8 tiếng là nhiều, để rồi mau mau chạy về nhà lo cho chồng con.

Đó là chưa kể phụ nữ đi làm lại còn có chuyện lỡ có bầu thì lại phải nghỉ, nghỉ “đầu óc” vì tinh thần dĩ nhiên bị cái bầu chi phối phần lớn, mà nghỉ làm thực tế khi bầu quá lớn, để đi đập bầu, và ở nhà dưỡng sức, nuôi con ít ra là trong vài tháng.

Làm việc và ưu tư ít hơn thì năng xuất cũng phải ít hơn, có thể phản ánh qua việc thăng chức chậm hơn, trách nhiệm ít hơn, và tiền thưởng ít hơn. Đây là một vấn đề có tính cơ bản, trong “máu” hay trong “din”. Khó có thể thay đổi để đòi hỏi phụ nữ phải lo cho công ty nhiều hơn là lo cho gia đình, hay ngược lại, đòi hỏi các ông lo cho gia đình nhiều hơn, bỏ bớt chuyện công ty đi.

Đó chính là lý do đơn giản và quan trọng nhất trong việc lương không đồng đều giữa nam và nữ, ít nhất là trong xã hội Mỹ ngày nay. Không có liên quan gì đến chuyện đảng Dân Chủ hay đảng Cộng Hòa như TT Obama và các chính khách Dân Chủ ám chỉ.

Một điều miả mai lớn là ngay chính trong Toà Bạch Ốc, dưới triều đại Obama, cách biệt nam nữ không phải nhỏ. Đại đa số - hơn 70%- các cố vấn, phụ tá, nhân viên nội các của TT Obama là nam giới. Các viên chức cao cấp đại đa số là nam, thư ký đại đa số là nữ. Nếu tính theo lương bổng thì tại đây, nam giới cũng lãnh lương cao hơn nữ giới, tương đương với cách biệt trong các ngành nghề trong kinh tế nói chung. Nếu muốn thay đổi như TT Obama kêu gọi, thì cần thay đổi ngay từ gốc, từ Toà Bạch Ốc trước.

Đi xa hơn Tòa Bạch Ốc, người ta cũng thấy trong cả nước Mỹ nói chung, tỷ lệ phụ nữ trong hàng ngũ công chức lên cao nhất là 45% dưới thời TT Bush con của khối bảo thủ “chống phụ nữ”. Sau đó dưới thời tổng thống cấp tiến Obama đã tuột dần xuống mức 43%, con số thấp nhất từ 16 năm qua. Những con số tất nhiên khó tin vì khó chịu đối với giới cấp tiến, nhưng lại là sự thật theo thống kê của cơ quan Office of Personnel Management, là cơ quan điều hành tất cả khối công chức Mỹ.

Một vấn đề lớn thứ hai được mang ra làm bằng chứng về chuyện Cộng Hoà kỳ thị phụ nữ là chuyện phá thai.

Khối cấp tiến chủ trương phụ nữ làm chủ thân xác, muốn phá thai là có quyền phá thai, không ai có thể thắc mắc về quyền tự do này. Và họ khua chiêng trống rầm rộ là ai chống lại quan niệm này là chống lại... phụ nữ.

Chuyện phá thai, dưới con mắt kẻ viết này, cũng không khác gì chuyện đồng tính. Đó là chuyện riêng tư của mỗi người, mỗi người đều có quyền có cách suy nghĩ và có tư tưởng riêng của mình. Vấn đề là không thể mang suy tư của mình áp đặt lên người khác.

Chống phá thai có nhiều lý do. Như phá thai là hành vi trốn tránh trách nhiệm. Như phá thai thả giàn là giúp phổ biến một cách sống buông thả trong sinh lý, thiếu tự chế. Và nhất là phá thai là đi ngược lại rời răn dạy của tất cả mọi tôn giáo vì không có một tôn giáo nào cổ võ hay cho phép phá thai. Có thể có nhiều người còn nhiều lý do khác chống phá thai. Nhưng tuyệt đối chống phá thai không phải là phát động chiến tranh chống phụ nữ -war on women- như khối cấp tiến hô hoán.

Cái nghịch lý của khối cấp tiến ủng hộ phá thai là họ tự cho họ là “pro-choice”, tức là đòi quyền tự do lựa chọn. Nhưng khi có người nào không lựa chọn giải pháp phá thai của họ thì người đó trở thành người “chống” phụ nữ ngay. Không còn quyền lựa chọn gì nữa. Cũng như ta đã bàn qua về vấn đề đồng tính trên cột báo này tuần trước, cái mâu thuẫn lớn nhất của khối cấp tiến là luôn luôn hô hào tự do, nhưng chỉ là tự do đi theo đường lối của họ thôi, còn đi ngược lại là bị đánh, bị tố bằng những lập luận lạ lùng, vô lý nhất.

Khối cấp tiến quên mất một chuyện là ngay trong hàng ngũ phụ nữ, cũng có một số lớn phụ nữ chống phá thai. Theo thăm dò của Gallup, trong 10 bà Mỹ thì đã có gần 6 bà (58%) chống phá thai, dưới mọi hình thức. Nếu đa số phụ nữ không chấp nhận phá thai thì làm sao có thể coi tư tưởng chống phá thai là chống phụ nữ được?

Câu chuyện bình đẳng nam nữ là một câu chuyện phức tạp, nhất là trong cái xứ tự do thả giàn, ai muốn nghĩ sao cũng được, ai muốn làm gì cũng được.

Ở Mỹ này, dưới áp lực của khối cấp tiến cực đoan tranh đấu cho bình đẳng tuyệt đối nam nữ, đã có nhiều chuyện oái ăm, quái gở xẩy ra.

Như có một thời, một số sở cứu hỏa hủy bỏ một số tiêu chuẩn về sức mạnh thể xác để giúp mở cửa cho phụ nữ vào làm nghề này, tránh tiếng sở cứu hỏa kỳ thị nam nữ. Nhưng thực tế sau một thời gian biện pháp này bị thâu hồi lại, vì những sở cứu hỏa này khám phá ra ngành này đòi hỏi một số tiêu chuẩn tối thiểu về sức mạnh cần thiết mà phụ nữ không có, gây trở ngại cụ thể cho công việc cực kỳ nguy hiểm của cái nghề cứu hỏa.

Hay chuyện có một vài trường học Mỹ để tránh mang tiếng kỳ thị nam nữ, cho phải đạo chính trị, cho phép nữ học sinh tham gia vào các đội đá banh kiểu Mỹ -american football- của trường, chỉ để khám phá ra chơi banh theo kiểu này đã gây ra hàng loạt tai nạn cho các nữ sinh với thể xác yếu hơn nam giới. Một điều mà chỉ cần ba giây đồng hồ xem football Mỹ trên truyền hình thì ai cũng thấy, không cần phải cho mấy cô vào chơi một thời gian, xẩy ra hàng loạt tai nạn mới biết được.

Đó là vài thí dụ cụ thể của chuyện nam nữ không thể nào hoàn toàn giống nhau như bà Steinem hô hào. Nhưng nói lên là bảo đảm bị tố ngay là đã có tư tưởng kỳ thị.

Và chính vì khối bảo thủ trong Cộng Hoà chống lại những chuyện vớ vẩn như vậy nên đã bị khối cấp tiến lớn tiếng tố giác là chống phụ nữ.

Và khối này, với sự phụ họa của truyền thông dòng chính, cũng đã đưa ra một bằng chứng họ cho là rõ ràng nhất là đảng Cộng Hoà chống phụ nữ là việc đảng Cộng Hòa đang bị mất phiếu phụ nữ.

TT Obama trong hai kỳ tranh cử vừa qua đã thu được từ 55% đến 60% phiếu của nữ cử tri. Kết quả này không có gì để tranh cãi. Nhưng những con số này đã che khuất một phần sự thật. Đại đa số những phụ nữ đi bầu thuộc giới trẻ, một số lớn là sinh viên chưa có gia đình, hoặc không chịu lập gia đình vì coi gia đình như là một định chế hủ lậu, thường có khuynh hướng cởi mở cấp tiến, ủng hộ mạnh chuyện nam nữ bình quyền, nhất là phá thai. Họ hăng hái đi bầu để ủng hộ TT Obama.

Phần lớn các bà tương đối lớn tuổi hơn, có gia đình thì lại ít chú ý đến chuyện chính trị, hay mắc lo chuyện công việc và gia đình, không đi bỏ phiếu. Ngày đầu phiếu là ngày thứ ba trong tuần theo Hiến Pháp ấn định, không phải là ngày nghỉ. Mấy bà đều đi làm, chẳng ai được nghỉ. Đi làm xong, mau mau chạy về lo cơm nước cho chồng con, ít người chịu ra xếp hàng mấy tiếng đồng hồ để bỏ phiếu.

Đó là lý do chính TT Obama hay các ứng viên Dân Chủ khác, đã thu được nhiều phiếu phụ nữ hơn các ứng viên Cộng Hoà. Chỉ vì mấy bà bảo thủ đi bầu ít hơn mấy cô cấp tiến. Chứ không phải vì đa số phụ nữ nói chung ủng hộ Dân Chủ và các tư tưởng cấp tiến của đảng này. Khác biệt là trong phòng phiếu, không phải là ngoài đời thực tế.

Cái khác biệt này không khác gì khác biệt chung trong giới đàn ông da trắng. Khối đàn ông da trắng nắm thế đa số tuyệt đối trong xã hội Mỹ, có thể lên tới hơn 60% dân số Mỹ. Nhưng cái khối này lại trở thành thiểu số trong phòng đầu phiếu chỉ vì đại đa số các ông da trắng không đi bầu. Đưa đến chuyện các khối dân trên nguyên tắc là thiểu số, như phụ nữ trẻ và giới trẻ nói chung, các dân da nâu, da đen, da vàng, lại có tiếng nói mạnh trong chính trường Mỹ.

Có thể nói là mạnh hơi quá khi họ đưa được một ông chính khách như ông Obama vào được Toà Bạch Ốc. (20-04-14)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.