Hôm nay,  

Ông Hai

19/02/201511:14:00(Xem: 13166)

 

Minh Mẫn

 

ONG HAI chuaKhông ai biết tên thật của ông, họ chỉ gọi ông là ông Hai. Những ai đến chùa Phật Quang, đường Đào Duy Từ, quận 10, kế sân vận động Thống nhất cũ của Sài gòn, đều bắt gặp người đàn ông lưng còng, tay chân cong vẹo, đi đứng khó khăn, khổ người khô khốc.

Hình như ông ngoài 50 thì phải, không ai đoán được tuổi của ông; ông ít nói và ông ít thân thiện với ai. Trong chùa, ngoài 10 vị sư, còn có 3 vị ni lớn tuổi, có gần chục em nam sinh viên ở trọ đi học. Ông là người đàn ông duy nhất tật nguyền, hai ông còn lại trên dưới 50, vẫn còn khỏe, phụ giúp việc nặng cho chùa.

-Thưa ông Hai, gia đình ông ở đâu? Con cái thế nào? Ông vào chùa công quả bao lâu rồi? Một tín đồ đến chùa lễ phép tìm hiểu

-Tôi không có gia đình, tật nguyền thế nầy làm sao có gia đình, vào chùa khá lâu, khi HT trụ trì cũ chưa viên tịch. – ông trả lời mà mắt vẫn chăm chú vào bịch cơm, bịch thức ăn đang chia phần để đem ra bố thí kẻ đói khổ ngoài đường mỗi ngày.

Công việc hàng ngày ở chùa, ông Hai phụ nhà bếp đổ rác, nhặt rau,làm vệ sinh các tầng lầu, thay nhang đèn. Gần 10 giờ sáng, ông Hai xuống bếp xúc một thau cơm trắng và đồ ăn, đem lên lầu thờ vong, ngồi ngoài vỉa hè phía sau để chia cơm vào bịch nilon.

-Thưa ông Hai, cơm nầy do chùa nhờ ông phân phối hay ông tự xin chùa để làm từ thiện?

-Chùa không nhờ tôi mà tôi cũng không xin cơm chùa để làm từ thiện – ông vẫn không ngước mắt nhìn người hỏi

-Vậy tiền đâu ông làm?

-Ai đến chùa cúng lễ, họ cho tiền, tôi để dành mua gạo và rau củ gửi chùa nấu.

Ông nằm dưới nền gạch với chiếc chiếu cũ rách, trước kia có người cho ông cái ghế xếp, nay ghế đã gãy, ông vào một góc tầng trệt với tài sản duy nhất là mấy bộ đồ cuộn làm gối, chiếc chăn đen đúa. Chân không có dép, đầu không đội nón. Mỗi lần ra khỏi chùa, không lẫn vào ai với cái lưng còng cố gượng thẳng, hai tay khẳng khiu bơi bơi để giữ thăng bằng, gương mặt cằn cổi với cái đầu đầy gân chạy dọc xuống cổ. Cặp chân teo, khô, da sạm mốc cố giữ thân mình cho khỏi chúi về trước. Hai tay cầm 10 túi cơm chay, đi về hướng sân bóng đá, ông trao cho người bán vé số ngồi xe lăn, bác xe ôm, chị nhặt ve chai, cháu bé đi xin... toàn là những “khách hàng” thường xuyên của ông mỗi người một bịch. Tuy thân thể thường đau nhức, nhưng ông Hai không ngày nào thiếu vắng trên đoạn đường Nguyễn Kim. Hình bóng ông quá quen thuộc với người dân lao động địa phương.

Một người gần chùa biết chuyện, tâm sự: - Trước kia gia đình ông Hai ở khu cầu Ông Lãnh, bị giải tỏa đi kinh tế mới, bố bị cây rừng ngã đè, không bao lâu sau vì không có tiền về Thành phố chạy chữa, chấn thương cột sống, bại liệt toàn thân, mẹ bị sốt rét, người em của ông còn nhỏ, quá đói, ăn phải nấm độc đã chết, một mình ông, tuổi mới lớn, phải làm thuê cuốc mướn lo cho gia đình. Lúc trẻ lưng ông đi đứng thẳng thớm như mọi người, do hằng ngày còng lưng trên nương rẫy, làm việc nặng nhọc, ăn uống thiếu dinh dưỡng, mỗi ngày lưng ông còng thêm một ít, khi dừng việc cuối ngày, ông đứng thẳng lưng lên cảm thấy hơi khó chịu vì các khớp khô cứng, cứ thế lâu dần năm tháng, ông không còn đi thẳng lưng được để khuân vác tại các bến bãi.

Cha mẹ qua đời, ông về lại Thành phố lây lất sống. Một buổi tối mưa lạnh, ông co quắp bên hông chùa chờ giấc ngủ muộn, thầy trụ trì nhìn thấy, gọi ông vào cho làm công quả tùy sức. Từ dạo ấy, ông không nhớ đã bao mùa mưa nắng, chỉ biết cứ tiếng Đại hồng chung khuya là ông đến thắp nhang các bàn thờ, ngồi một góc khuất để niệm Phật. Tối đến, sau thời Tịnh độ, ông chui vào một góc tìm giấc ngủ say. Việc chùa không ai nhắc nhở, ông tự nguyện luôn tay luôn việc.

Gia đình nhà đám làm tuần 49 ngày ở chùa, các cô gái nhà đám tổ chức cúng Trai Tăng, họ nhìn ông với sự xót thương như một người thân, thường xuyên dúi vào tay ông những tờ bạc xanh lớn nhất

- Tiền con gửi ông Hai mua chiếc ghế bố để nằm, sao ông không mua? Để con mua hén. - Cô Hạnh thay mặt nhà đám thăm hỏi ông.

- Thôi cô à. Cám ơn quý cô đã nghĩ tình lo cho tôi, còn nhiều người khổ hơn tôi đang lây lất ngoài xã hội. Tôi được nương náu ở chùa là phúc lắm rồi. Đâu dám xài phí đồng tiền của bá tánh. Dùng tiền đó tôi mua gạo để nấu cơm bố thí hàng ngày. - Cô Hạnh lại tiếp tục nhét vào tay ông như những tuần trước, ông lí nhí cám ơn.

- Ông đã nghèo còn lo cho người nghèo, không để dành tiền khi ốm đau mà có. – Cô Hạnh nhắc ông.

- Trời sinh voi sinh cỏ cô à. – Ông thật thà đáp.

Trai Tăng vừa mãn, ông Hai cũng vừa về tới chùa, trên tay cầm một túi gạo, một ít bịch nilon mới và rau củ quả để làm cơm từ thiện vào ngày mai.

Gia đình nhà đám nhìn ông Hai, trao đổi với nhau: Lòng từ bi và làm từ thiện đâu đợi phải đại gia tỷ phú, trong tầm tay, gói cơm miếng canh để chia sớt cho người nghèo khổ quanh ta cũng thể hiện tấm lòng nhân ái, tại sao ta không làm được như ông Hai!!!

MINH MẪN

16/02/2015

(Nguồn: http://thuvienhoasen.org/)

Nơi trạm xe buýt cuối ngày, chuyến xe cuối cùng chuẩn bị lăn bánh. Những người đến trễ và những người muốn ngủ lại nơi băng ghế chờ đợi, sẽ bị bỏ lại. Cơ hội tái diễn cho một chuyến xe khác, có thể là ngày hôm sau. Nhưng hôm sau, nào ai đoán được chuyện gì sẽ xảy ra. Người ta cần phải bước qua, bỏ lại lịch sử phía sau, bằng không sẽ bị bỏ lại bên lề lịch sử.
Cùng thời điểm, các nước trong vùng như Ấn độ, Mã lai, Phi luật tân,...bị Tây phương đô hộ, đều lần lược thu hồi độc lập, tổ chức đất nước theo thể chế tự do dân chủ và nhờ đó, đất nước phát triển mà không phải có hơn 10 triệu dân chết oan uổng như Việt nam. Chỉ vì họ không có hiện tượng Hồ Chí Minh!
NHững người trẻ sẽ không còn là “không chịu lớn.” Họ đã trưởng thành trong suy nghĩ của riêng họ. Và khi phải xuống đường bày tỏ những ước muốn của mình. Họ biết họ phải làm gì. Không thể nào ai đó bảo họ phải làm cái này hay phải làm cái kia. Họ không còn cần phải có lãnh tụ. Đất nước cần những con em như thế.
Hiệp Định Geneve, cũng như Hiệp Định Paris, đối với Bác và Đảng – rõ ràng – đều chỉ là một mớ giấy lộn. Tổng Tuyển Cử (1956) hay Đình Chiến (1973) cũng thế. Hoà bình là từ ngữ không hề có trong tự điển của những người cộng sản. Họ nhất định phải nhuộm đỏ hết cả nước VN (bằng mọi giá và mọi cách) thì mới thoả lòng.
Lần đầu tiên tôi đi thăm Huynh Trưởng Huy Phương đang bệnh già. Đây là chuyến "thoát ly" đặc biệt sau hơn một năm tự giam mình. Trong suốt thời gian Huynh Trưởng bị bệnh, nằm nhà thương dài dài trong bao nhiêu ngày có đại dịch, tuy không phải bị con virus mắc dịch hành hạ, nhưng là một bệnh ngặt nghèo phát sinh theo tuổi tác.
Mùa an cư năm nay không có Thông Điệp giáo giới của Tôn Sư Tòng lâm Tông tượng sách tấn bốn chúng như pháp như luật hành trì. Những tiếng kêu của lừa dê chồn cáo không thay thế được tiếng rống của sư tử chấn động ma quân. Vậy, không gì hơn chúng ta cùng đọc lại “Huấn thị an cư Phật lịch 2548” của Đức Đệ Tứ Tăng Thống Trưởng lão Hòa thượng Thích Huyền Quang. Huấn thị không nói gì nhiều hơn ngoài những kim ngôn Thánh giáo mà Đức Thích Tôn đã truyền dạy trên 25 thế kỷ. Tụng đọc và suy niệm kỹ.
Nhìn chung, vấn đề hoàn toàn bế tắc khi cả hai phe đều vi phạm pháp luật, tận dụng bạo lực để duy trì mọi yêu sách và không có thiện chí hiếu hoà để giải quyết tranh chấp. Các nỗ lực quốc tế, đặc biệt nhất là qua nhiểu tổng thống Mỹ, không mang lại kết quả. Các chương trình viện trợ tái thiết của các định chế quốc tế không tô điểm cho cuộc sống của dân chúng tốt đẹp hơn. Tình trạng thảm hại chung là thực tế đau thương.
Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật, người nào làm việc xấu thì gặp việc xấu đến, người nào làm việc tốt thì mọi sự tốt lành sẽ đến. Sống làm sao được bình yên trong tâm hồn là đủ, giàu nghèo sang hèn đâu có gì quan trọng, sống mình biết đủ là đủ. Hãy nhìn tính tốt của người khác, người nào cũng có tính tốt, tại chúng ta không nhìn thấy mà thôi?
Những bộ óc siêu đẳng của con người tạo ra trí tuệ nhân tạo được thể hiện qua máy móc. Những ứng dụng của trí tuệ nhân tạo đã phục vụ đời sống con người ngày càng tốt đẹp hơn. Khoa học thần kỳ nầy đã được áp dụng trong mọi sinh hoạt của con người hầu hết trong mọi lãnh vực.
Trước sự kiện lịch sử sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc mà Việt Nam, một nước nhỏ so với Trung Quốc hùng mạnh, rộng lớn với dân số đông gấp trăm lần đã không bị đồng hóa mà vẫn giữ được độc lập, nên một số sử gia Việt Nam và ngoại quốc đã rất ngạc nhiên. Theo họ, có lẽ nước ta đã nhờ nhiều lý do như ngôn ngữ, tôn giáo, địa thế và dân Việt có một truyền thống và nghị lực vững mạnh, v.v. Riêng G.S. Ngô Nhân Dụng, trong tác phẩm nghiên cứu lịch sử “Đứng Vững Ngàn Năm” đã cho rằng: “Sau ngàn năm Bắc thuộc mà dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, sau cùng lại dựng được một quốc gia độc lập; đó là một phép lạ lịch sử”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.