Hôm nay,  

Lão Trượng Lãng Du

25/08/201500:00:00(Xem: 5660)

Đường rừng trên đỉnh non cao, đỉnh Madonna, Tu Viện Kim Sơn. Đoàn thiền hành bắt đầu đi từ sân trước hướng về phía biển Thái Bình, vịnh Monterey. Rừng redwood rợp bóng mát làm dịu cái nóng tháng 7. Đường mòn gập ghềnh quanh co, cành cây khô nằm vắt ngang lối đi. Dẫn đầu đoàn là Sư ông Thich Viên Thức, tiếp sau là hơn mười các em thiếu nhi từ 8 đến 15 tuổi, tiếp sau là Đại Đức Thích Quảng Trí, Sư Cô Thanh Diệu Mai, còn các người lớn khoảng 30 người theo sau, phần lớn là thành viên của Gia đình Thiền Sinh Sợi Nắng. Im lặng. Chỉ nghe tiếng chân dẵm trên lá khô, thỉnh thoảng tiếng trượt chân trên dốc.

Sư ông Viên Thức năm nay 77 tuổi từ Việt Nam vân du qua Mỹ, trú tại Phương Vân Am trong Tu Viện. Sư ông đi nhanh thoăn thoắt, như không phải đi trên đường rừng. Từ đằng sau, mình chỉ thây cái mũ ni màu nâu nhấp nhô xuyên qua những tàn lá rủ trên đường mòn. Hòa thượng Thích Tịnh Từ, Viện Trưởng Tu Viện tặng cho Sư ông biệt danh Lão Trượng Thiền Sư. Chiếc áo cà sa Sư ông mặc là do chính Sư ông vẽ kiểu, có 12 túi trong ngoài lúc nào cũng đầy ắp giấy tờ, còn trắng tinh hay đã ghi những vần thơ làm tại chỗ, bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào. Một túi riêng đựng một hộp đủ loại bút viết, viết mực để làm thơ, viết lông để vẽ. Sư ông là một họa sĩ, có lẽ trường phái thủy mặc, mà đã có những tác phẩm được nhiều nhà xuất bản trên thế giới mua. Thật ra không phải Sư ông bán cho họ theo một giá nào đó, nhưng tặng cho họ, và họ cúng dường tùy hỉ. Nhờ đó mà Sư ông có tiền thoải mái đi chơi khắp thế giới. Vẽ từ thời niên thiếu kể từ khi mới đi tu năm 10 tuổi, năm nay là hơn 60 năm, Sư ông tính ra có mấy chục ngàn bức họa. Sư ông kể có một nhà xuất bản ở Anh Quốc xuất bản một cuốn sách về loài chó, tìm thấy trên internet hình vẽ 7 con chó của Sư ông, bèn từ Anh bay sang Việt Nam tìm đến tận ngôi chùa nhỏ Lâm Tỳ Ni ẩn sâu trong núi rừng Đà Lạt và xin mua, nhưng Sư ông hoan hỉ tặng không cho họ. Vài tháng sau đại diện nhà xuất bản qua và cúng dường mỗi bức họa là 400 đô la, viện cớ rằng đó là luật bản quyền quốc tế.

blank
Tác phẩm Sư ông Viên Thức.

Đây là chân dung tự họa của Sư Ong

Đang đi, bất ngờ Sư ông dừng lại trên một mô đất cao, nói vừa sáng tác một bài thơ nhờ các cô trong Gia đỉnh Thiền Sinh Sợi Nắng hát “chay” ( nghĩa là phổ nhạc tại chỗ không cần nốt nhạc, không nhạc đệm ). Bài thơ có nhan đề: Gió Nhẹ Ru Ai

Tím tím hồng hồng
Rợp nắng trời tây
Rạng rỡ đông phương
Nhẹ lướt chiến bào
Ánh mắt thần quang
Tâm vô quái ngại
Đạp vòng luân hoán
Cỡi nắng trời mây
Đạp vòng luân hoán
Cỡi nắng trời tây
Đạp vòng luân hoán
Cỡi nắng nhàn du

Giữa núi rừng thâm u, tiếng hát của các cô vang lên theo gió, tự nhiên chẳng cần thính giả, hay thính giả là những cổ thụ, là vách núi, là vực sâu, là chim chóc, là đá sỏi, là áng mây lẻ loi trên khoảng trời, là những chú sóc đang nhảy nhót qua những bụi cây.. Tiếng đồng ca nâng trí tưởng tượng mình lên cao vượt vòng sinh tử, cỡi lên triều nắng nhàn du. Tâm mình có vướng vào âm thanh không? Hay nương theo âm thanh để ngộ một cái gì bên kia ? Thơ của Sư ông thường là bốn chữ, giản dị vậy thôi, dễ làm tâm mình vượt qua ngôn từ vào hình ảnh, lại vượt qua hình ảnh đến chỗ không không.

Ngôn ngữ thơ đời thường dễ làm tâm mình lụy vào hình ảnh, trụ ở đó hoài gây phiền não, như mấy câu thơ trong bài “Hai sắc hoa ti gôn”

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi
Rồi từng thu chết từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người

Người đó chỉ còn là cái bóng thôi mà làm tâm người đàn bà hiện tại đau khổ. Nhà Phật nói đến loài ma ngũ ấm. sắc-thọ-tưởng-hành-thức, bốn câu thơ trên hội đủ cả năm giống ma làm tâm con người điên đảo. Thân ở hiện tại mà tâm luẩn quẩn nơi nảo nơi nao trong quá khứ xa tít mù tắp, lại “tưởng” đến một tương lai nối lại cuộc tình. Vì thế nhà Phật gọi là khổ lụy vì bỏ quên giây phút hiện tại. Người thiếu phụ thiếu may mắn đó hẳn tự coi mình như ở trong một nhà tù mà cai ngục là người chồng hờ. Nếu một người tù biệt giam không biết thiền hành quán niệm giây phút hiện tại trong gian xà lim dài rộng hai thước mà tâm cứ luyến tiếc quá khứ vàng son đã qua, mơ mộng một cảnh phú quý tương lai chưa có thì tâm người tù dễ rơi vào bế tắc tuyệt vọng đưa đến tự tử.

Tiếng ca chấm dứt, mình hết nghe âm thanh rồi, nhưng hình như âm thanh bài hát như còn đọng lại nơi lá cỏ, nơi đá sỏi, nơi vách núi. Mình nhớ đến Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói về tính nghe không bao giờ hết, chỉ có âm thanh hết mà thôi. Tính nghe đó vốn nằm trong cả lá cỏ, đá sỏi….những vật mà cái “ta” vẫn tự cho là chủ thể cao cấp đối diện với cái khách thể vô tri. Mình vẫn cho chú sóc kia là sinh vật hạ đẳng, nhưng chú sóc ấy vẫn có tính giác đấy chứ.

Có khi tính giác của chú còn “linh” hơn cả mình đấy. Mình vẫn tự cho mình cao hơn các loài khác vì có khả năng lý luận, nhưng càng hay lý luận với những khái niệm trừu tượng thì càng rời xa tính giác hồn nhiên.

Nẻo đường giải thoát
Còn gì vui hơn
Nẻo đường giải thoát
Không ta, không người
(trích từ bài thơ “Am Không”, Viên Thức)

blank
Tác phẩm Sư ông Viên Thức.

Một bức họa của Sư ông kèm một câu thơ “ Vòng vo lý luận vô phương vào thiền”. Một bài thơ không phải chỉ gồm một số ngôn từ sắp xếp có vần điệu, mà có thể gồm một vài nét vẽ thủy mặc và một hai câu thơ, bởi vì một cụm từ tạo nên một chùm hình ảnh, thì tại sao không vẽ một cái gì đó thay cho ngôn từ? Phong cách làm thơ của Sư ông như vậy.

Đoàn thiền hành tiếp tục đi trong im lặng. Mình chỉ nghe tiếng bước chân của mình, của nhiếu người khác. Hiện tại mình còn hai chân …để bước đi, bàn chân mầu nhiệm thực đấy chứ. Giả dụ không có bàn chân…..làm sao bước ? Mình nhớ lại buổi thiền trà pháp thoại lúc 5 giờ sáng nay trong thiền đường. Hòa Thượng Tịnh Từ đọc cho đại chúng “KInh Lắng Nghe trích từ Niyakha Dharma Sutra. Kinh mở đầu như vầy:”Mùa mưa an cư thứ ba, tại tu viện Trúc Lâm, Đức Phật và tăng đoàn cùng đại chúng lần đầu tiên được nghe tiếng chuông đồng ngân vang từ thiền đường lan khắp vườn tu viện và núi rừng”. Nghe, ở đây là nghe bằng tai, trong kinh điển gọi là bằng nhĩ căn. Nhưng trong Kinh Lắng Nghe có những câu kệ như sau:

Lắng nghe bằng lỗ tai
Chưa phải pháp hay nhất
Mà lắng nghe bằng con tim
Lắng nghe bằng hơi thở
.
Lắng nghe hơi thở giọt mưa
Lắng nghe hơi thở giọt nắng
Lắng nghe hơi thở bàn tay
Lắng nghe hơi thở dòng sông

Sức nghe của nhĩ căn rất giới hạn, nhưng sức nghe của con tim thi vô hạn.

Một người mẹ mong đứa con bỏ nhà đi bao năm có thể “nghe” được tiếng lòng hối hận của nó khi nó mắc nạn trên đường rong ruổi. Đôi tình nhân “nghe” được tiếng gọi thầm tên nhau. Nhưng làm sao “nghe được hơi thở của giọt mưa, giọt nắng” ? Chắc là phải ngồi thiền định thật sâu mới nghe được nhịp thở của một giọt mưa, một giọt nắng, một dòng sông…hay nói chung thiên nhiên. Mà nếu nghe được thiên nhiên thì hẳn thân mình và thiên nhiên là một. Ta chẳng còn là thân thể ta, ta là cả vũ trụ. Mình và đoàn người vẫn im lặng bước đi. Đôi bàn chân mình bắt đầu thấy mỏi sau một tiếng đồng hồ “qua ghềnh vượt thác”. “Lắng nghe hơi thở bàn chân”…Bàn chân nó thì thầm “mỏi rồi…. mỏi rồi”, nhưng coi kìa Sư ông vẫn băng băng đi phía trước, ngay cả bọn trẻ cũng không theo kịp, sao mình lại đầu hàng được? Văng vẳng nghe tiếng chuông từ tu viện lan tới.. Mình cảm tác vài câu thơ

Lắng Nghe Chuông Ngân Trên đỉnh Madonna

Hãy nhìn bé thơ nằm trên ghềnh đá
Cười hồn nhiên nghe sóng biển rì rầm
Gió từ đâu đem nắng vờn đôi má
Làn môi xinh hé nở nụ hoa xuân
.
Bé lắng nghe mây nói chuyện thì thầm
Rủ nhau đi làm mưa cho đất khổ
Cho rừng cây xanh lá suốt muôn năm
Nơi mầm non đợi chờ mưa phổ độ
.
Bé lắng nghe cát sỏi vỗ tay mừng
Nâng niu đón chào bước chân người tỉnh thức
Về non xưa chiêm ngưỡng ánh trăng rừng
Trăng nguyên sơ chưa vẩn mây trần tục
.
Tiếng chuông vọng từ lầu cao chánh điện
Theo gió bay vào sóng nước mênh mông
Đưa hồn trẻ thơ về nơi thánh thiện
Có nụ cười xinh trên cánh môi hồng

blank
Tác phẩm Sư ông Viên Thức.

Rồi cuối cùng đoàn thiền hành cũng đến bên bờ Vịnh Monterey. Từ non cao nhìn xuống mặt biển xanh biếc dưới kia, mình chợt nhớ mấy câu thơ của nhà thơ Tuệ Sỹ:

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này, hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn không ?

Không hiểu sao hơi thơ lại buồn man mác về cảnh vô thường huyễn mộng thế nhỉ? Lẽ ra thiền sư thì tự tại như nhiên trước vạn pháp biến dịch chứ ? Nhưng Sư ông đã ra hiệu trở về tu viện cho kịp giờ cơm trưa, hãy ngưng dòng tâm tưởng và bước ra đường cái. Nắng lên cao làm mọi người có vẻ mệt mỏi, bước chậm hơn mặc dù đường bằng phẳng không như đường rừng. Sư ông vẫn dẫn đầu đi nhanh thoăn thoắt, hẳn nhiên là kết quả của công phu đi bộ 5 tiếng mỗi ngày và thực phẩm chính là rau tươi và trái cây, cơm chỉ là phụ.

Sau cơm trưa, Sư ông mắc võng giữa hai cây redwood nghỉ trưa. Sư ông nói ngay cả đêm ngủ cũng treo võng ngoài trời, ngày đêm chìm trong thiên nhiên. Sư ông kể có lần qua Florida thăm một đạo hữu, ban đêm Sư ông mắc võng trong công viên gần nhà, nửa đêm bị cảnh sát đánh thức. Khi biết Sư ông là một nhà tu và quen cư dân trong vùng nên cho phép ngủ luôn.

Hai giờ trưa Gia đình Sợi Nắng lên xe về lại Orange County, Sư ông bèn cùng lên xe đi luôn, về nhà một đạo hữu ở Santa Ana. Đạo hữu này vừa sửa xong khu vườn, thế là Sư ông mắc võng ngay trong vườn ngủ ngoài trời luôn. Sư ông đặt tên cho khu vườn là Vườn Thiền Am Không với bài thơ sáng tác ngay tối đó:

Vườn thiền am không
Am không vườn thiền
Hoa lồng sợi nắng
Cảnh Phật thiên nhiên

Cảnh Phật tâm không
Đường đời vạn nẻo
Đường trần mênh mông
Đường trần mênh mông

Nẻo đường giải thoát
Còn gì vui hơn
Nẻo đường giải thoát
Không ta không người

Một buổi chiều trên bờ biển New Port Beach với chiếc võng mắc dưới chân cầu

Biển xanh nắng ấm
Vô cấu bầu trời
Lòng ta thanh thản
Mây nước muôn nơi
.
Thật là trân qui
Làm được thân người
Năm châu hội ngộ
Mây gió rong chơi

Một ngày trên đỉnh núi Palm Springs, Sư ông mắc võng trong một khe nui khuất. Đang viết mấy câu thơ bằng tiếng Anh thì một du khách Mỹ bước tới. Sư ông hỏi anh ta: “bây giờ và ở đây, là trạng từ ( adverb) trong từ điển có, thế còn nowness, hereness là danh từ thì từ điển Mỹ có chưa ? Chàng du khách cười xòa thoải mái. Cũng như Sư ông Nhất Hạnh sáng tạo ra từ “Inter-Being”, trong từ điển Anh Mỹ chưa hề có.

Chiếc võng của thiền sư đong đưa lúc ven rừng, khi bãi biển, lúc khe núi, khi vườn hoa gây cho mình một ấn tượng nửa lãng mạn nửa thanh thoát, khiến mình cảm tác một vài câu thơ kính tặng Sư ông, nhan đề

Lão Trượng Lãng Du

Sư ông mắc võng lưng đồi
Lắng nghe mây nước kể đời truân chuyên
Hóa thân lớp lơp nhân duyên
Xoay vần năm tháng triền miên chưa ngừng
Sư ông mắc võng ven rừng
Trên tàn cổ thụ một vừng trăng soi
Chơn tâm tánh giác rạng ngời
Rừng tâm náo động ngàn đời chưa yên
Sư ông mắc võng vườn thiền
Am không hoa nở mọi miền ngát hương
Đất tâm nở đóa vô thường
Lay hồn tĩnh thức về đường vô ưu
Sư ông mắc võng chân cầu
Biển xanh man mác một mầu mênh mông
Sóng dâng cuốn sạch bụi hồng
Hải triều âm Phật tiếng chuông gọi về
Sư ông mắc võng sơn khê
Đong đưa vách núi tỉnh mê đôi dòng
Hồn thơ khe suối tinh trong
Lãng du bao cõi vẫn mong quê nhà

Đào Ngọc Phong

Westminster, CA 20 tháng 8 năm 2015

Ý kiến bạn đọc
13/09/201500:12:58
Khách
Ngày xưa thuở học trò trung học khi yêu nhau, gặp trắc trở...thường chép cho nhau thơ TTKH,nàng khóc...cảm thấy sao xót xa và thắm thía quá...
Hồi đó không thích thơ Thiền bốn chữ, chỉ thích Thất Ngôn Bác Cú.
Ngày nay nhờ tu học mới biết hai chữ Vô thường...
Tác giả có đồng ý với "tiện hạ" không ?
Dù sao cũng cám ơn Tác giả đã giới thiệu"Lão Trượng Lãng Du" mồt Thiền Sư đáng kính trọng...
Cám ơn PhD đã cho thưởng thức mấy bài thơ quá hay rất thiên vị...
Mong rằng trong tương lai sẽ cho đọc giả VB thương thức thêm...
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.