Hôm nay,  

Lão Trượng Lãng Du

25/08/201500:00:00(Xem: 5653)

Đường rừng trên đỉnh non cao, đỉnh Madonna, Tu Viện Kim Sơn. Đoàn thiền hành bắt đầu đi từ sân trước hướng về phía biển Thái Bình, vịnh Monterey. Rừng redwood rợp bóng mát làm dịu cái nóng tháng 7. Đường mòn gập ghềnh quanh co, cành cây khô nằm vắt ngang lối đi. Dẫn đầu đoàn là Sư ông Thich Viên Thức, tiếp sau là hơn mười các em thiếu nhi từ 8 đến 15 tuổi, tiếp sau là Đại Đức Thích Quảng Trí, Sư Cô Thanh Diệu Mai, còn các người lớn khoảng 30 người theo sau, phần lớn là thành viên của Gia đình Thiền Sinh Sợi Nắng. Im lặng. Chỉ nghe tiếng chân dẵm trên lá khô, thỉnh thoảng tiếng trượt chân trên dốc.

Sư ông Viên Thức năm nay 77 tuổi từ Việt Nam vân du qua Mỹ, trú tại Phương Vân Am trong Tu Viện. Sư ông đi nhanh thoăn thoắt, như không phải đi trên đường rừng. Từ đằng sau, mình chỉ thây cái mũ ni màu nâu nhấp nhô xuyên qua những tàn lá rủ trên đường mòn. Hòa thượng Thích Tịnh Từ, Viện Trưởng Tu Viện tặng cho Sư ông biệt danh Lão Trượng Thiền Sư. Chiếc áo cà sa Sư ông mặc là do chính Sư ông vẽ kiểu, có 12 túi trong ngoài lúc nào cũng đầy ắp giấy tờ, còn trắng tinh hay đã ghi những vần thơ làm tại chỗ, bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào. Một túi riêng đựng một hộp đủ loại bút viết, viết mực để làm thơ, viết lông để vẽ. Sư ông là một họa sĩ, có lẽ trường phái thủy mặc, mà đã có những tác phẩm được nhiều nhà xuất bản trên thế giới mua. Thật ra không phải Sư ông bán cho họ theo một giá nào đó, nhưng tặng cho họ, và họ cúng dường tùy hỉ. Nhờ đó mà Sư ông có tiền thoải mái đi chơi khắp thế giới. Vẽ từ thời niên thiếu kể từ khi mới đi tu năm 10 tuổi, năm nay là hơn 60 năm, Sư ông tính ra có mấy chục ngàn bức họa. Sư ông kể có một nhà xuất bản ở Anh Quốc xuất bản một cuốn sách về loài chó, tìm thấy trên internet hình vẽ 7 con chó của Sư ông, bèn từ Anh bay sang Việt Nam tìm đến tận ngôi chùa nhỏ Lâm Tỳ Ni ẩn sâu trong núi rừng Đà Lạt và xin mua, nhưng Sư ông hoan hỉ tặng không cho họ. Vài tháng sau đại diện nhà xuất bản qua và cúng dường mỗi bức họa là 400 đô la, viện cớ rằng đó là luật bản quyền quốc tế.

blank
Tác phẩm Sư ông Viên Thức.

Đây là chân dung tự họa của Sư Ong

Đang đi, bất ngờ Sư ông dừng lại trên một mô đất cao, nói vừa sáng tác một bài thơ nhờ các cô trong Gia đỉnh Thiền Sinh Sợi Nắng hát “chay” ( nghĩa là phổ nhạc tại chỗ không cần nốt nhạc, không nhạc đệm ). Bài thơ có nhan đề: Gió Nhẹ Ru Ai

Tím tím hồng hồng
Rợp nắng trời tây
Rạng rỡ đông phương
Nhẹ lướt chiến bào
Ánh mắt thần quang
Tâm vô quái ngại
Đạp vòng luân hoán
Cỡi nắng trời mây
Đạp vòng luân hoán
Cỡi nắng trời tây
Đạp vòng luân hoán
Cỡi nắng nhàn du

Giữa núi rừng thâm u, tiếng hát của các cô vang lên theo gió, tự nhiên chẳng cần thính giả, hay thính giả là những cổ thụ, là vách núi, là vực sâu, là chim chóc, là đá sỏi, là áng mây lẻ loi trên khoảng trời, là những chú sóc đang nhảy nhót qua những bụi cây.. Tiếng đồng ca nâng trí tưởng tượng mình lên cao vượt vòng sinh tử, cỡi lên triều nắng nhàn du. Tâm mình có vướng vào âm thanh không? Hay nương theo âm thanh để ngộ một cái gì bên kia ? Thơ của Sư ông thường là bốn chữ, giản dị vậy thôi, dễ làm tâm mình vượt qua ngôn từ vào hình ảnh, lại vượt qua hình ảnh đến chỗ không không.

Ngôn ngữ thơ đời thường dễ làm tâm mình lụy vào hình ảnh, trụ ở đó hoài gây phiền não, như mấy câu thơ trong bài “Hai sắc hoa ti gôn”

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi
Rồi từng thu chết từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người

Người đó chỉ còn là cái bóng thôi mà làm tâm người đàn bà hiện tại đau khổ. Nhà Phật nói đến loài ma ngũ ấm. sắc-thọ-tưởng-hành-thức, bốn câu thơ trên hội đủ cả năm giống ma làm tâm con người điên đảo. Thân ở hiện tại mà tâm luẩn quẩn nơi nảo nơi nao trong quá khứ xa tít mù tắp, lại “tưởng” đến một tương lai nối lại cuộc tình. Vì thế nhà Phật gọi là khổ lụy vì bỏ quên giây phút hiện tại. Người thiếu phụ thiếu may mắn đó hẳn tự coi mình như ở trong một nhà tù mà cai ngục là người chồng hờ. Nếu một người tù biệt giam không biết thiền hành quán niệm giây phút hiện tại trong gian xà lim dài rộng hai thước mà tâm cứ luyến tiếc quá khứ vàng son đã qua, mơ mộng một cảnh phú quý tương lai chưa có thì tâm người tù dễ rơi vào bế tắc tuyệt vọng đưa đến tự tử.

Tiếng ca chấm dứt, mình hết nghe âm thanh rồi, nhưng hình như âm thanh bài hát như còn đọng lại nơi lá cỏ, nơi đá sỏi, nơi vách núi. Mình nhớ đến Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói về tính nghe không bao giờ hết, chỉ có âm thanh hết mà thôi. Tính nghe đó vốn nằm trong cả lá cỏ, đá sỏi….những vật mà cái “ta” vẫn tự cho là chủ thể cao cấp đối diện với cái khách thể vô tri. Mình vẫn cho chú sóc kia là sinh vật hạ đẳng, nhưng chú sóc ấy vẫn có tính giác đấy chứ.

Có khi tính giác của chú còn “linh” hơn cả mình đấy. Mình vẫn tự cho mình cao hơn các loài khác vì có khả năng lý luận, nhưng càng hay lý luận với những khái niệm trừu tượng thì càng rời xa tính giác hồn nhiên.

Nẻo đường giải thoát
Còn gì vui hơn
Nẻo đường giải thoát
Không ta, không người
(trích từ bài thơ “Am Không”, Viên Thức)

blank
Tác phẩm Sư ông Viên Thức.

Một bức họa của Sư ông kèm một câu thơ “ Vòng vo lý luận vô phương vào thiền”. Một bài thơ không phải chỉ gồm một số ngôn từ sắp xếp có vần điệu, mà có thể gồm một vài nét vẽ thủy mặc và một hai câu thơ, bởi vì một cụm từ tạo nên một chùm hình ảnh, thì tại sao không vẽ một cái gì đó thay cho ngôn từ? Phong cách làm thơ của Sư ông như vậy.

Đoàn thiền hành tiếp tục đi trong im lặng. Mình chỉ nghe tiếng bước chân của mình, của nhiếu người khác. Hiện tại mình còn hai chân …để bước đi, bàn chân mầu nhiệm thực đấy chứ. Giả dụ không có bàn chân…..làm sao bước ? Mình nhớ lại buổi thiền trà pháp thoại lúc 5 giờ sáng nay trong thiền đường. Hòa Thượng Tịnh Từ đọc cho đại chúng “KInh Lắng Nghe trích từ Niyakha Dharma Sutra. Kinh mở đầu như vầy:”Mùa mưa an cư thứ ba, tại tu viện Trúc Lâm, Đức Phật và tăng đoàn cùng đại chúng lần đầu tiên được nghe tiếng chuông đồng ngân vang từ thiền đường lan khắp vườn tu viện và núi rừng”. Nghe, ở đây là nghe bằng tai, trong kinh điển gọi là bằng nhĩ căn. Nhưng trong Kinh Lắng Nghe có những câu kệ như sau:

Lắng nghe bằng lỗ tai
Chưa phải pháp hay nhất
Mà lắng nghe bằng con tim
Lắng nghe bằng hơi thở
.
Lắng nghe hơi thở giọt mưa
Lắng nghe hơi thở giọt nắng
Lắng nghe hơi thở bàn tay
Lắng nghe hơi thở dòng sông

Sức nghe của nhĩ căn rất giới hạn, nhưng sức nghe của con tim thi vô hạn.

Một người mẹ mong đứa con bỏ nhà đi bao năm có thể “nghe” được tiếng lòng hối hận của nó khi nó mắc nạn trên đường rong ruổi. Đôi tình nhân “nghe” được tiếng gọi thầm tên nhau. Nhưng làm sao “nghe được hơi thở của giọt mưa, giọt nắng” ? Chắc là phải ngồi thiền định thật sâu mới nghe được nhịp thở của một giọt mưa, một giọt nắng, một dòng sông…hay nói chung thiên nhiên. Mà nếu nghe được thiên nhiên thì hẳn thân mình và thiên nhiên là một. Ta chẳng còn là thân thể ta, ta là cả vũ trụ. Mình và đoàn người vẫn im lặng bước đi. Đôi bàn chân mình bắt đầu thấy mỏi sau một tiếng đồng hồ “qua ghềnh vượt thác”. “Lắng nghe hơi thở bàn chân”…Bàn chân nó thì thầm “mỏi rồi…. mỏi rồi”, nhưng coi kìa Sư ông vẫn băng băng đi phía trước, ngay cả bọn trẻ cũng không theo kịp, sao mình lại đầu hàng được? Văng vẳng nghe tiếng chuông từ tu viện lan tới.. Mình cảm tác vài câu thơ

Lắng Nghe Chuông Ngân Trên đỉnh Madonna

Hãy nhìn bé thơ nằm trên ghềnh đá
Cười hồn nhiên nghe sóng biển rì rầm
Gió từ đâu đem nắng vờn đôi má
Làn môi xinh hé nở nụ hoa xuân
.
Bé lắng nghe mây nói chuyện thì thầm
Rủ nhau đi làm mưa cho đất khổ
Cho rừng cây xanh lá suốt muôn năm
Nơi mầm non đợi chờ mưa phổ độ
.
Bé lắng nghe cát sỏi vỗ tay mừng
Nâng niu đón chào bước chân người tỉnh thức
Về non xưa chiêm ngưỡng ánh trăng rừng
Trăng nguyên sơ chưa vẩn mây trần tục
.
Tiếng chuông vọng từ lầu cao chánh điện
Theo gió bay vào sóng nước mênh mông
Đưa hồn trẻ thơ về nơi thánh thiện
Có nụ cười xinh trên cánh môi hồng

blank
Tác phẩm Sư ông Viên Thức.

Rồi cuối cùng đoàn thiền hành cũng đến bên bờ Vịnh Monterey. Từ non cao nhìn xuống mặt biển xanh biếc dưới kia, mình chợt nhớ mấy câu thơ của nhà thơ Tuệ Sỹ:

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này, hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn không ?

Không hiểu sao hơi thơ lại buồn man mác về cảnh vô thường huyễn mộng thế nhỉ? Lẽ ra thiền sư thì tự tại như nhiên trước vạn pháp biến dịch chứ ? Nhưng Sư ông đã ra hiệu trở về tu viện cho kịp giờ cơm trưa, hãy ngưng dòng tâm tưởng và bước ra đường cái. Nắng lên cao làm mọi người có vẻ mệt mỏi, bước chậm hơn mặc dù đường bằng phẳng không như đường rừng. Sư ông vẫn dẫn đầu đi nhanh thoăn thoắt, hẳn nhiên là kết quả của công phu đi bộ 5 tiếng mỗi ngày và thực phẩm chính là rau tươi và trái cây, cơm chỉ là phụ.

Sau cơm trưa, Sư ông mắc võng giữa hai cây redwood nghỉ trưa. Sư ông nói ngay cả đêm ngủ cũng treo võng ngoài trời, ngày đêm chìm trong thiên nhiên. Sư ông kể có lần qua Florida thăm một đạo hữu, ban đêm Sư ông mắc võng trong công viên gần nhà, nửa đêm bị cảnh sát đánh thức. Khi biết Sư ông là một nhà tu và quen cư dân trong vùng nên cho phép ngủ luôn.

Hai giờ trưa Gia đình Sợi Nắng lên xe về lại Orange County, Sư ông bèn cùng lên xe đi luôn, về nhà một đạo hữu ở Santa Ana. Đạo hữu này vừa sửa xong khu vườn, thế là Sư ông mắc võng ngay trong vườn ngủ ngoài trời luôn. Sư ông đặt tên cho khu vườn là Vườn Thiền Am Không với bài thơ sáng tác ngay tối đó:

Vườn thiền am không
Am không vườn thiền
Hoa lồng sợi nắng
Cảnh Phật thiên nhiên

Cảnh Phật tâm không
Đường đời vạn nẻo
Đường trần mênh mông
Đường trần mênh mông

Nẻo đường giải thoát
Còn gì vui hơn
Nẻo đường giải thoát
Không ta không người

Một buổi chiều trên bờ biển New Port Beach với chiếc võng mắc dưới chân cầu

Biển xanh nắng ấm
Vô cấu bầu trời
Lòng ta thanh thản
Mây nước muôn nơi
.
Thật là trân qui
Làm được thân người
Năm châu hội ngộ
Mây gió rong chơi

Một ngày trên đỉnh núi Palm Springs, Sư ông mắc võng trong một khe nui khuất. Đang viết mấy câu thơ bằng tiếng Anh thì một du khách Mỹ bước tới. Sư ông hỏi anh ta: “bây giờ và ở đây, là trạng từ ( adverb) trong từ điển có, thế còn nowness, hereness là danh từ thì từ điển Mỹ có chưa ? Chàng du khách cười xòa thoải mái. Cũng như Sư ông Nhất Hạnh sáng tạo ra từ “Inter-Being”, trong từ điển Anh Mỹ chưa hề có.

Chiếc võng của thiền sư đong đưa lúc ven rừng, khi bãi biển, lúc khe núi, khi vườn hoa gây cho mình một ấn tượng nửa lãng mạn nửa thanh thoát, khiến mình cảm tác một vài câu thơ kính tặng Sư ông, nhan đề

Lão Trượng Lãng Du

Sư ông mắc võng lưng đồi
Lắng nghe mây nước kể đời truân chuyên
Hóa thân lớp lơp nhân duyên
Xoay vần năm tháng triền miên chưa ngừng
Sư ông mắc võng ven rừng
Trên tàn cổ thụ một vừng trăng soi
Chơn tâm tánh giác rạng ngời
Rừng tâm náo động ngàn đời chưa yên
Sư ông mắc võng vườn thiền
Am không hoa nở mọi miền ngát hương
Đất tâm nở đóa vô thường
Lay hồn tĩnh thức về đường vô ưu
Sư ông mắc võng chân cầu
Biển xanh man mác một mầu mênh mông
Sóng dâng cuốn sạch bụi hồng
Hải triều âm Phật tiếng chuông gọi về
Sư ông mắc võng sơn khê
Đong đưa vách núi tỉnh mê đôi dòng
Hồn thơ khe suối tinh trong
Lãng du bao cõi vẫn mong quê nhà

Đào Ngọc Phong

Westminster, CA 20 tháng 8 năm 2015

Ý kiến bạn đọc
13/09/201500:12:58
Khách
Ngày xưa thuở học trò trung học khi yêu nhau, gặp trắc trở...thường chép cho nhau thơ TTKH,nàng khóc...cảm thấy sao xót xa và thắm thía quá...
Hồi đó không thích thơ Thiền bốn chữ, chỉ thích Thất Ngôn Bác Cú.
Ngày nay nhờ tu học mới biết hai chữ Vô thường...
Tác giả có đồng ý với "tiện hạ" không ?
Dù sao cũng cám ơn Tác giả đã giới thiệu"Lão Trượng Lãng Du" mồt Thiền Sư đáng kính trọng...
Cám ơn PhD đã cho thưởng thức mấy bài thơ quá hay rất thiên vị...
Mong rằng trong tương lai sẽ cho đọc giả VB thương thức thêm...
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.