Hôm nay,  

Hạnh Ngộ Cuối Đời

03/10/201507:44:00(Xem: 7985)

Hạnh Ngộ Cuối Đời

Nguyễn Trần Diệu Hương
.

Mở Đầu: Vào thăm Thầy Nguyễn Xuân Hoàng những tháng cuối đời ở bệnh viện, ở nhà dưỡng lão, chúng tôi được Thầy kể lại hạnh ngộ tình cờ trong đời sống của Thầy với một ông bác sĩ của bệnh viện Stanford từng là một người lính Mỹ trẻ đồn trú ở Nha Trang trong những năm chiến tranh, Thầy dự định sẽ viết lại chuyện này khi khoẻ hơn. Không may, dự định đó chẳng bao giờ thành sự thật.  Xin được thay Thầy kể lại chuyện này như một nén tâm hương tưởng nhớ nhân giỗ đầu của Thầy.  – NTDH

*

Tôi trở lại bệnh viện Stanford lần này là là lần thứ bao nhiêu, tôi không còn nhớ được . Những viên thuốc giảm đau nhỏ xíu đủ màu, những lần hóa trị (chemo therapy), xạ trị (radiation therapy) có thể giúp tôi kéo dài đời sống thêm một chút, đỡ đau đớn hơn, nhưng làm cho đầu óc tôi mờ mịt, trắng xóa.


Những lần gần đây, tôi không còn tự đi được nữa, dù là đi với 3 chân (2 chân của tôi, 1 chân của baton) hay 6 chân (2 chân của tôi cộng 4 chân của cái walker). Lúc đầu, buồn kinh khủng, hụt hẫng vì thấy "lực bất tòng tâm", nhưng những cơn đau thốn từ trong xương đau ra làm mọi suy nghĩ vụn vỡ, đầu óc trống trơn, nhiều lúc không nhận ra được cả người đến thăm đứng ở cạnh giường.


Mỗi lần đến Stanford, dù là chỉ "tạm trú” vài tiếng cho một lần chemotherapy, hay "thường trú" ở đó một tuần, nửa tháng, tôi đều được đỡ từ xe nhà qua chiếc xe lăn của bệnh viện ngay ở cửa chính . Đây là một ưu tiên rất đáng buồn cho bất cứ ai được nhận.


Thường thì nhà tôi đẩy tôi qua các lối đi rộng, sạch bóng của bệnh viện . Có lần nhân viên bệnh viện đẩy tôi đi . Đôi lúc, bệnh viện quá bận rộn, tôi phải ngồi lơ ngơ, lọt thỏm trong xe lăn ở lobby chờ người có trách nhiệm đưa mình về phòng hoá trị. Sau hơn nửa năm chiến đấu không cân sức với căn bệnh sarcomas quái ác, tôi chỉ còn khoảng 110lbs (so với trọng lượng 165lbs lúc tôi còn khỏe) .


Để quên bớt nỗi đau. để có một điều gì đó yên bình trong đầu óc khi nằm trên giường trong suốt vài tiếng chemo, cho một số thuốc vào người, " dĩ độc trị độc" để các tế bào ung thư quái ác ngừng phát triển , tôi thường đem theo đọc sách dễ đọc khi vẫn còn tỉnh táo. Thường thì tôi chỉ tính táo được khoảng nửa tiếng đầu, sau đó, đầu óc tôi trắng xóa, nửa tỉnh nửa mê, cuốn sách rời khỏi tay, rơi xuống nền nhà .


Lần đó, người lượm quyển sách đặt lai ngay ngắn trên cái bàn nhỏ ở đầu giường là một ông bác sĩ chắc cũng đã bước vào độ tuổi sáu mươi. Thấy tôi mở mắt, ông cười mỉm và hỏi:


  • Ông cũng thích đọc sách về Nha Trang ?


(chắc là dù không đọc được tiếng Việt nhưng bìa sách có hai chữ Nha Trang và hình con đường Duy Tân chạy dọc theo ven biển làm ông nhận ra nội dung sách có liên quan đến thành phố thùy dương cát trắng này)


Nghe một người bản xứ nhắc về quê hương biển xanh của mình, tự dưng bao nhiêu mỏi mệt sau khi chemo tan biến, tôi nhìn ông với cái nhìn “tha hương ngộ cố tri”:


  • Tôi là người Nha Trang mà. Ông đã từng đến Nha Trang?


  • Không những đến mà còn ở đó gần một năm .


  • Ông ở đường nào?


  • Đường Khổng Tử, sau trường nữ tiểu học Âu Cơ .


  • Ông đã từng làm việc ở Nha Trang?


  • Vang,  và rất yêu thành phố ven biển đẹp, hiền hòa này.



Như được đưa về một thời trai trẻ với những kỷ niệm đẹp, ông bác sĩ người Mỹ kể cho tôi nghe về đoạn đường Duy Tân chạy dọc bờ biển đẹp nhất Nha Trang. Ông say sưa kể về những bậc thang bằng đá ong dẫn lên Tháp Bà với nhiều huyền thoại ở ngoại ô Nha Trang, về món chè nổi tiếng ở cây dầu đôi ở phía Bắc của Thành phố đã đi vào lịch sử,  đã chở che danh tướng Trịnh Phong trong phong trào Cần vương kháng chiến chống Pháp của vua  Hàm Nghi.


Lúc đó trong mắt của chúng tôi, không phải là khung cảnh bệnh viện Stanford với mùi ethanol bay thoang thoảng mà là Nha Trang thân yêu với gió biển có mang vị mặn của muối,  với tiếng sóng biển đập vào bờ cát trắng nhẹ nhàng, đều đều trong mùa hè, mạnh bạo, giận dữ trong mùa đông.


Sau đó chúng tôi còn có dịp nói chuyện với nhau vài lần nữa trong những lần đi chemo của tôi ở bệnh viện. Ông Johnson là BS trưởng khoa, công việc thường ngày của ông thiên về nghiên cứu nhiều hơn, nhưng có một vài lần khi không bị trùng thời khoá biểu, ông đến bên giường bệnh của tôi vừa theo dõi bệnh tình , vừa giúp cho bệnh nhân quên đi mọi nỗi đau thể xác khi ông kể về những ngày tuổi trẻ của ông ở Nha Trang yêu dấu của cả hai chúng tôi. Lời kể của ông đã cuốn hút, đôi mắt màu xanh xám sau tròng kính trắng cũng mang tôi về thời “làm học trò nhưng không sách cầm tay” ở sân trường Võ Tánh, ở con đường Bá Đa Lộc cây dài bóng mặt đẹp nổi tiếng ở quê tôi. Như thế đó, cả người kể lẫn người nghe đều thấy lòng mình về lại với thời tuổi trẻ mắt sáng môi tươi.


Những ngày điều trị dù nội trú, hay ngoại trú của tôi ở bệnh viện Stanford nhờ vậy mà trở nên êm đềm hơn. Những con đau thể xác trong giai đoạn cuối cùng của bệnh ung thư sarcomas vẫn kéo về gián đoạn, hay liên tục nhưng không còn làm tôi đau đớn như lúc chưa được nghe ông Johnson ôn lại thời tuổi trẻ của ông, của cả hai chúng tôi ở Nha Trang vào cuối thập niên 50 của thế kỷ trước.



Thế mới biết có những thứ thuốc tinh thần có hiệu quả cao như thế . Một lúc nào đó khoẻ hơn, tôi sẽ cố gắng viết về thứ hạnh phúc cận kề nỗi chết đặc biệt này, sẽ tả lại thật sống động nỗi đau thẩm thấu tìm gan của bệnh ung thư ở giai đoạn cuối . Không ai biết giai đoạn này với tôi nhẹ nhàng hơn nhờ một ông bác sĩ có tuổi ở bệnh viện Stanford , một người lính trẻ Mỹ đã chiến đấu, lưu trú cả năm ở quê hương tôi, và yêu quê hương tôi giống như tôi, như bao người Nha Trang đang sống đời lưu lạc …


Nếu có kiếp sau, nếu vẫn còn phải trở lại làm người với "sinh, lão, bệnh, tử", vẫn xin được làm một người Việt Nam ,một người Nha Trang dù sống bất cứ nơi đâu vẫn mang theo mùi vị của sóng biển quê nhà.


(Xin được viết thay cho Thầy Nguyễn Xuân Hoàng)

Nguyễn Trần Diệu Hương


.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.