Hôm nay,  

Hiệu Ứng Giá Dầu

10/02/201600:00:00(Xem: 9498)
...bước vào năm Thân này, vấn đề của Trung Quốc hết là kinh tế mà sẽ là an ninh và chính trị.

Dầu thô là sản phẩm chiến lược trong ý nghĩa là loại nhiên liệu cần thiết cho nền công nghiệp của các nước trên thế giới và ai làm chủ nguồn năng lượng này thì có thể chi phối nhiều quốc gia khác. Nhưng từ hơn một năm qua, giá dầu sụt mạnh đã lại gây hậu quả ngược là làm các nước bán dầu và các doanh nghiệp sản xuất bị điêu đứng. Bước vào năm Bính Thân, tiết mục Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về hiệu ứng của dầu thô khi giá dầu sụt mạnh và gây biến động cho các thị trường chứng khoán trên thế giới. Xin quý thính giả theo dõi cách Nguyên Lam nêu vấn đề với chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa, tư vấn kinh tế của đài Á Châu Tự Do.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Hôm nay là chương trình kinh tế đầu năm của chúng ta, Nguyên Lam mong là ông đã vừa cùng gia đình ăn một cái Tết Bính Thân vui vẻ. Khi chuẩn bị đề tài kỳ này là hiệu ứng của giá dầu, Nguyên Lam tìm lại các chương trình trước vẫn được đài lưu trữ và nhớ rằng cách nay đúng một năm, trong chương trình ngày Thứ Tư 11 Tháng Hai năm 2015, ông có phân tích nguyên nhân của việc dầu thô sụt giá và khi ấy giá dầu còn ở khỏang 65 đô la một thùng ông đưa ra dự báo rằng giá có thể sụt nữa và di động trong biên độ từ hai chục đến năm chục đô la một thùng mà thôi. Ngày nay, giá đầu đã chạm mức 30 đồng và mỗi lần sụt dưới ngưỡng đó thì các thị trường cổ phiếu đều tuột giá. Ông cũng có nêu ra rằng giá đầu chỉ là một dấu hiệu của tình hình sinh hoạt kinh tế và dầu thô mà sụt giá thì đấy là triệu chứng đáng ngại cho viễn ảnh kinh tế trước mắt. Quả là từ đầu năm dương lịch, tình hình kinh tế thế giới có dấu hiệu không mấy khả quan nhưng kỳ này chúng ta sẽ tìm hiểu riêng về hậu quả của nạn dầu thô sụt giá. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng nói về bối cảnh thì chúng ta có thể đang chứng kiến một chuyển động lớn, trăm năm mới có một lần. Khi dầu thô là nguồn năng lượng chính cho công nghiệp cách nay trăm năm thì xứ nào hay doanh nghiệp nào có dầu thì tưởng như ta làm chủ thế giới. Cách nay nửa thế kỷ thì có lúc thiên hạ hốt hỏang báo động rằng sinh hoạt kinh tế hủy hoại môi sinh, thế giới sẽ đói ăn và thiếu dầu. Ngày nay, tình hình xảy ra trái ngược với dầu thô dư thừ và gây hậu qủa chưa ai lường được nên ta sẽ khởi sự từ một giác độ khác.

- Thứ nhất, cuộc cách mạng về kỹ thuật gạn đá phiến ra dầu, tạm gọi là fracking, đảo lộn thế cung cầu với Hoa Kỳ và cả Canada trở thành hai nhả sản xuất mới và tăng số cung cho thế giới. Thứ hai, từ biến động năm 2008, kinh tế thế giới vẫn chưa khả quan và lại có dấu hiệu suy trầm từ Trung Quốc nên số cầu về dầu khí không tăng mà giảm. Thứ ba, kinh tế của Trung Quốc đã hạ cánh rồi và sẽ sa sút trong nhiều năm tới, và khi số cung tăng vọt mà số cầu vẫn đình trệ thì giá dầu phải sụt. Thứ tư, cùng cuộc cách mạng kỹ thuật về dầu khí, nhân loại cũng ra sức tìm các nguồn năng lượng “sạch” như quang năng là ánh mặt trời hay phong năng là sức gió, nên dầu thô, khí đốt và than đá hết còn vị trí nhu yếu như trước, và vì vậy giá dầu sẽ còn giảm nữa.

Nguyên Lam: Ông Nghĩa vừa tóm lược một bối cảnh rất rộng của hồ sơ dầu khí với kết luận hợp lý là giá dầu sẽ còn giảm. Khi ấy, ai mua dầu thì có lợi và ai bán dầu thì bị thiệt hại, nhưng thưa ông, nếu cân nhắc lợi và hại thì hậu quả sau cùng là gì? Giả dụ như Nguyên Lam có thể mua xăng với giá rẻ hơn, đấy là cái lợi, nhờ đó có thêm tiền mua thứ khác và kích thích sản xuất ở khu vực khác, nhưng giới sản xuất xăng dầu thì bị thiệt hại vì tài sản của họ mất giá và cũng có thể giảm đầu tư vào ngành khác. Trong cái chuỗi liên hệ rắc rối ấy thì người ta dựa vào những yếu tố nào để suy tính?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin khởi đi từ tổng thể với vài con số đơn giản để mình cùng tính.

- Từ giữa năm 2014 thì giá dầu ở khoảng 100 đô la một thùng, nay chỉ còn 30 đô la, coi như mất 70%. Tổng số trữ lượng về dầu của thế giới đã được xác định thì ở khỏang một ngàn 700 tỷ thùng. Khi dầu mất giá 70% thì kho dầu toàn cầu coi như mất giá khoảng 120 ngàn tỷ đô la, tính cho tròn thì hơn gấp 10 sản lượng kinh tế của nước Mỹ, bằng 500 lần sản lượng của Việt Nam hay 200 lần tài sản của vài doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Con số ấy cho thấy kích thước của vấn đề. Dù biết rằng lượng dầu ấy vẫn còn nằm dưới đất và chỉ có giá khi đào lên khai thác và bán ra, nhưng trong sổ sách hay đầu óc của các quốc gia hay các doanh nghiệp làm chủ lượng tài sản này thì người ta phải thấy là mình bị nghèo đi mất 70%. Khi ấy, chúng ta nghĩ tới khái niệm gọi là “hiệu ứng thịnh vượng ngược” để dự đoán về hậu quả.

Nguyên Lam: Ông nói đến khái niệm hay phạm trù “hiệu ứng thịnh vượng ngược”, thưa ông, đấy là cái gì vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu tôi thấy mình giàu hơn thì tự nhiên tôi nghĩ đến việc xài tiền này cho các nhu cầu trước đây mình muốn mà không thỏa mãn được. Thí dụ như mua một cái xe lớn hơn hay một ngôi nhà sang hơn. Từ đó, quyết định chi tiêu phụ trội của tôi có thể kích thích sản xuất cho doanh nghiệp và đấy là phạm trù “hiệu ứng thịnh vượng”, cơ sở của các tính toán và dự đoán kinh tế của giới hữu trách. Ngược lại, khi thấy mình bị nghèo đi thì tất nhiên là phải thu vén chi tiêu, tạm đình chỉ những gì muốn làm. Doanh nghiệp dầu khí đang khai thác các giếng dầu bị mất giá thì phải tiết giảm đầu tư, có khi sa thải nhân viên và gây hậu quả bất lợi cho kinh tế. Một quốc gia bán dầu ra như Liên bang Nga hay Saudi Arabia cũng thế, bị thất thâu ngân sách vì dầu thô sụt giá và không thể duy trì các chương trình phúc lợi xã hội như trước và hậu quả bất lợi sẽ lan rộng ra khỏi lĩnh vực năng lượng qua kinh tế và xã hội. Đấy là hiện tượng “hiệu ứng thịnh vượng ngược” hay “hiệu ứng nghèo túng”. Với giá dầu bị mất 70% và sẽ còn mất nữa, hiệu ứng bất lợi cho các nước bán dầu sẽ lây lan và gây ra nguy cơ “giảm phát” là sản lượng kinh tế suy giảm, hàng họ bán rẻ mà vẫn ế và thất nghiệp sẽ tăng.

Nguyên Lam: Ông vừa nhắc tới vai trò của Hoa Kỳ là quốc gia đi tiên phong trong cuộc cách mạng về kỹ thuật khai thác dầu thô và khí đốt khiến số cung trên thế giới tăng mạnh, làm sụt giá dầu trong bối cảnh trì trệ của kinh tế thế giới. Khi dầu sụt giá như vậy thì vì sao các công ty không giảm mức sản xuất để hãm số cung?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nhờ cuộc cách mạng kỹ thuật mà Hoa Kỳ đã vọt lên thành quốc gia sản xuất nhiều dầu nhất thế giới và giảm hẳn số dầu nhập khẩu nên càng làm thế giới bị ứ dầu. Khi ấy, các tiểu bang có giếng dầu lớn nhất như Texas, Oklahoma hay North Dakota đã thành đầu máy kinh tế. Các doanh nghiệp loại nhỏ và vừa lao vào lĩnh vực sản xuất dầu với kỹ thuật mới cũng tuyển dụng nhiều nhân công nhất và khai thác cả ngàn giếng dầu loại bỏ túi ở mọi nơi và góp phần làm giảm nạn thất nghiệp tại Mỹ. Nhưng từ giữa năm 2014, tình hình hết còn khả quan như trước và ngày càng khó khăn hơn vì dầu thô sụt giá khiến nhiều giếng bị tạm đóng cửa và ngân sách nhiều tiểu bang như North Dakota bị hao hụt nặng chẳng khác gì tình hình Liên bang Nga hay Á Rập Saudi hoặc Venezuela.

- Sang câu hỏi vì sao nhà sản xuất không giảm số cung để giá khỏi sụt thì ta gặp một vấn đề kế toán tài chính. Nhiều doanh nghiệp Mỹ đã đi vay thay vì chủ yếu bỏ vốn để khai thác dầu. Khi giá sụt thì họ vẫn có nhu cầu thanh toán các khoản nợ đáo hạn nên vẫn cứ phải bơm thêm dầu và bán lỗ để có tiền mặt hầu còn trả nợ trên thị trường trái phiếu hay cho các ngân hàng. Và động thái tuyệt vọng ấy lại càng làm dầu hạ giá trong một vòng luẩn quẩn đáng ngại! Mà không chỉ có doanh nghiệp, nhiều quốc gia cũng gặp cảnh ngặt nghèo ấy khi đi vay quá trớn.

Nguyên Lam: Như ông vừa trình bày thì phải chăng các doanh nghiệp khai thác dầu lao vào một cuộc chơi nguy hiểm vì đi vay tiền để áp dụng một kỹ thuật tân kỳ làm tăng sản lượng và giảm phí tổn sản xuất cho tới khi dầu thô sụt giá quá mạnh thì họ phải tiếp tục bơm đầu trả nợ dù có bị lỗ. Nhìn ra ngoài Hoa Kỳ thì tình hình của các nước sản xuất coi bộ cũng ít quả quan mà còn có vẻ nguy ngập, thí dụ như xứ Á Rập Xaou-đi và các nước trong Hiệp hội OPEC của 14 quốc gia xuất khẩu dầu thô. Ông nghĩ sao về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta đang chứng kiến một biến cố gọi là trăm năm mới thấy một lần. Cùng nhiều nước bán dầu trong Vịnh Á Rập, Saudi Arabia có chiến lược độc đáo là không giảm sản lượng để giữ giá mà cứ tiếp tục bán thêm để giá sụt mạnh làm các doanh nghiệp Mỹ lỗ vốn và đóng cửa, là điều có xảy ra. Khối Á Rập này, như Saudi, Kuweit và các tiểu vương quốc, có nhiều dầu và dự trữ ngoại tệ dồi dào nên mới theo đuổi việc ấy, chứ các thành viên khác của tổ chức OPEC, như Venezulea thì bị khốn đốn nặng. Cuối tuần qua thì rạn nứt bùng nổ trong nhóm OPEC và tổ chức này hết còn thế lực làm giá như hơn 40 năm trước mà còn bị nguy cơ tan rã.

- Cũng về hiệu ứng của giá dầu, ta không quên là Iran đang nuôi hy vọng bán dầu từ một triệu rưởi đến ba triệu một ngày sau khi hết bị quốc tế cấm vận để có thu nhập cải thiện kinh tế, nhưng sẽ lại tăng số cung. Là đối thủ chính trị của Iran, Saudi Arabia càng không muốn giảm sản lượng trong mục tiêu làm dầu thô sụt giá nữa hầu Iran không chiếm được lợi thế kinh tế. Ta không nên quên vai trò võ khí của dầu thô và Hoàng gia Saudi đang sử dụng võ khí ấy để gây khó cho Iran, cho Liên bang Nga và các doanh nghiệp Mỹ.

Nguyên Lam: Khi nói đến hoàn cảnh thuận lợi hơn cho các nước mua dầu thì chúng ta phải nhớ tới Trung Quốc là một nước cũng sản xuất dầu thô nhưng vẫn phải mua thêm cho đủ yêu cầu tiêu thụ quá lớn với hiệu suất rất kém. Thưa ông, nếu nói về hậu quả của việc dầu thô xuống giá thì kinh tế Trung Quốc được lợi những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trung Quốc có lợi nhờ hóa đơn mua giàu được rẻ hơn trước, nhưng tự thân thì đã có quá nhiều vấn đề nên kết cuộc thì chẳng có gì khả quan hơn. Tôi xin vắn tắt như thế này: Trung Quốc là nơi mà mỗi tuần lại có một tin xấu về kinh tế và tình hình tiếp tục suy đồi hơn với nạn đồng bạc mất giá, thất nghiệp tăng, tư bản tẩu tán ra ngoài, dự trữ ngoại tệ sẽ hao hụt bình quân chừng hơn 100 triệu đô la - trong năm nay có thể mất thêm khoảng hơn một ngàn tỷ. Vì vậy, bước vào năm Thân này, vấn đề của Trung Quốc hết là kinh tế mà sẽ là an ninh và chính trị. Trong hoàn cảnh đó số cầu về dầu thô càng giảm và giá dầu sẽ càng hạ.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Như phần trình bày trên cho thấy nạn dịch Virus Corona đã khiến cho ”gió đã đổi chiều” nên thế giới có cái nhìn hoàn toàn ác cảm đối với Trung Cộng và nhà độc tài Tập Cận Bình, bởi lẽ nay hiểm họa này đã liên quan trực tiếp đến mạng sống quý báu của mỗi cá nhân. Biết đâu vì thế rất có thể sẽ có những biến chuyển bất ngờ quan trọng như sự kiện Bức Tường Berlin sụp đỗ thình lình không hề báo trước vào ngày 9.11/1989 đã mang lại tự do thực sự cho cả toàn vùng Đông Âu.
Trước đây với thuyết âm mưu, Đặng Tiểu Bình tuyên bố “Không cần biết mèo trắng hay mèo đen, chỉ cần bắt được chuột đều là mèo tốt”. Với “thuyết con mèo” của Đặng Tiểu Bình trong phiên họp của đại hội Đảng CSTQ lần thứ 11 năm 1985, trong hoàn cảnh đương thời, khi nền kinh tế Trung Quốc đang lâm vào kinh tế lụn bại, khó khăn, khủng hoảng trầm trọng. Muốn xoay xở, thoát khỏi vũng lầy chỉ còn cách “cải tổ kinh tế” rập khuôn như tư bản mà ông tổ của họ Karl Marx (1818–1883) và Friedrich Engels (1820–1895) trong cuốn Tư Bản Luận cho rằng tư bản sẽ giãy chết “Chủ nghĩa tư bản trong cơn giãy chết sẽ tự đào mồ chôn chính nó”.
Ngày 15/04/2020 , chỉ hai tuần sau khi cột mốc một triệu ca nhiễm trùng được ghi nhận, số lượng các trường hợp COVID-19 được báo cáo trên toàn thế giới đã vượt quá hai triệu, theo dữ liệu được tổng hợp bởi các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Johns Hopkins tại Baltimore, Maryland/USA.
45 năm, từ làn sóng người Việt tị nạn đến Mỹ đầu tiên vào năm 1975, đến nay cộng đồng gốc Việt tại Mỹ được xem đã khá ổn định với nhiều thành công cá nhân và trong mỗi gia đình. Trải qua nhiều đời tổng thống, bất luận đảng phái nào, người gốc Việt đã từng bước hội nhập rồi thăng tiến trên đất nước thứ hai của mình. Đọc lại câu chuyện lịch sử để thấy không phải một sớm một chiều hay chỉ riêng với một đời tổng thống nào mới giúp họ tạo dựng nên cuộc sống hiện nay mà đó là cả quá trình trong suốt gần nửa thế kỷ qua.
Sau khi tổng thống Donald Trump hăm doạ sẽ cắt bỏ phần đóng góp của Mỹ cho Tổ chức Y tế Thé giới (OMS/WHO) vì cách tổ chức này giải quyết đại dịch Vũ Hán không minh bạch và có ẩn ý, đã gây ra thảm hại khủng khiếp cho cả thế giới như hiện nay, ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, Tổng Giám đốc của Tổ chức Y tế Thế giới (OMS), liền phản ứng mạnh bằng cách khuyến cáo lãnh đạo các quốc gia là “đừng chính trị hoá đại dịch Covid-19 nếu không muốn có nhiều túi đựng xác chết hơn nữa “.
Tôi sống hơi dai, trải dài từ thế kỷ này qua thế kỷ khác nên đã có dịp đưa tiễn khá nhiều vật dụng tân kỳ (máy đánh chữ, máy fax, máy ảnh chụp phim, radio, akai cassette, DVD …) về nơi an nghỉ cuối cùng. Cứ tưởng như thế là tất cả đều đã mồ yên mả đẹp, và sẽ tiêu diêu nơi miền cực lạc nhưng thực tế lại không hẳn thế.
Báo chí đảng Cộng sản Việt Nam đang “có nguy cơ bị truyền thông xã hội chi phối, lấn át, gây ra nhiều tác hại….”. Đó là thú nhận của Ban Bí thư Trung ương đảng ghi trong Chỉ thị số 43-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam trong tình hình mới, ban hành ngày 14/04/2020.
Sống giữa thời mắc dịch – thỉnh thoảng – tôi vẫn nghĩ đến chuyện bị Cô Vy (đột ngột) đến thăm, với đôi chút băn khoăn. Chết thì cũng chả oan uổng gì nữa nhưng mang cuộc đời về không thì kể cũng hơi buồn. Không công danh, sự nghiệp (gì ráo) đã đành; chút hư danh (liệt sỹ, thạc sỹ, tiến sỹ, kẻ sỹ, chiến sỹ, đấu sỹ, dũng sỹ, hàn sỹ, thi sỹ, văn sỹ, họa sỹ … ) cũng không luôn. Bia mộ chỉ ghi vỏn vẹn là “thường dân” ngó cũng kỳ
Thế giới những ngày gần đây chăm chú theo dõi việc chính quyền Mỹ tung gói cứu trợ khẩn cấp 2.2 ngàn tỷ USD trong khi Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ (NHTƯ) gấp rút bơm thêm 2.3 ngàn tỷ USD vào thị trường. Tưởng cũng nên tìm hiểu vai trò khác biệt giữa NHTƯ và chính quyền (trong giới hạn của bài này thì chính quyền bao gồm Hành Pháp cùng Lập Pháp) ở hai lãnh vực kinh tế và tài chánh trong nước Mỹ.
Nếu đây là một kịch bản Hollywood điển hình thì người hùng “nước Mỹ ngoại lệ” của chúng ta, sau khi trù trừ lưỡng lự trong Màn một, sẽ có quyết định đúng đắn tại điểm chuyển biến. Quái vật Covid-19 độc ác sẽ bị khống chế, trật tự thế giới được tái lập, và xã hội trở lại cái thời trước khi ác nhân xuất hiện. Nhưng nếu sau khi dập tắt được Covid-19 chúng ta quay về với cơ chế xã hội trước đây thì đó sẽ là một chiến thắng Pyrrhic mà đôi bên đều bị huỷ diệt. Có thể chúng ta sẽ có bộ phim thứ nhì, rồi thứ ba… cho đến hồi cuối: Đại nạn môi trường. Nếu cách chống dịch lủng cà lủng củng của chính phủ trong những ngày qua chỉ là dự thảo cho biện pháp đối phó đại nạn sắp tới thì trái đất này kể như tiêu. Tuy nhiên, vẫn có những tín hiệu của niềm hy vọng và lòng can đảm phát ra từ mớ bòng bong hỗn độn Covid: nhân viên các doanh nghiệp thiết yếu đồng loạt xuống đường đòi hỏi được bảo vệ sức khoẻ và trả lương xứng đáng; dân chúng tự động quyên góp và may khẩu trang cho các cơ sở y tế; bác


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.