Hôm nay,  

Không Sợ Hãi

06/10/201600:00:00(Xem: 7697)

Từ năm 2001, đầu thế kỷ 21, ngôn ngữ truyền thông bắt đầu nhắc đến nhiều từ ngữ “khủng bố,” “chủ nghĩa khủng bố” (terror/terrorism). Đây không phải là từ ngữ mới, nhưng nó được nhấn mạnh và sử dụng nhiều sau sự kiện 11/9/2001, với tòa tháp đôi ở New York sụp đổ hoàn toàn do những chiếc phi cơ bị những kẻ khủng bố Al-Qaeda dùng bạo lực cưỡng chế phi hành đoàn, điều hướng đâm vào. Trước đó 6 tháng, vào ngày 10 tháng 3 năm 2001, lực lượng Taliban ở A-phú-hãn (Afghanistan) đã cho nổ bom làm sụp đổ hai tượng Phật khổng lồ khắc trong núi đá, có niên đại hơn 1500 năm. Hành động phá hủy tượng Phật lúc đó dù là hành vi bạo động nhưng không bị xem như là khủng bố, mà là hành động hủy diệt văn hóa nhân loại nghiêm trọng (theo sự lên án của Tổ chức Văn hóa – Khoa học và Giáo dục LHQ - UNESCO). Vậy, có thể hiểu “khủng bố” là lời nói hay hành vi đe dọa trực tiếp đến mạng sống và đời sống của con người; nhẹ thì từ những cá nhân với mục đích trục lợi, tống tiền; nặng thì từ các tổ chức tôn giáo, chính trị để nêu cao lý tưởng của họ, hoặc từ các nhà cầm quyền nhằm ngăn chặn tiếng nói đối lập để giữ vững chế độ.

Từ “khủng bố” cũng được nghe quen từ bản Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh do Pháp sư Trần Huyền Trang (Đường Tam Tạng) dịch từ Prajđā Pāramitā Sūtra vào năm 649, sau được cô đọng lại thành bản Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh 260 chữ. Trong kinh văn nầy, chữ “khủng” và “bố” đều mang nghĩa đơn giản là (bị) sợ hãi, đe dọa; mà để không bị sợ hãi, đe dọa, tâm phải tịch lặng, an nhiên, không bị vướng mắc, trở ngại (tâm vô quái ngại). Tâm không bị vướng mắc, ngăn ngại là tâm vô trụ (ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm); tâm vô trụ là tâm không có tự ngã, là tâm bản nhiên, tâm bất sanh. Chỉ với cái tâm như thế, mới không còn sợ hãi.

*

Trong hoàn cảnh mà nhan nhản chung quanh chỉ toàn là những lời hư dối, người ta sợ phải nói những điều trung thực; nói ra có thể bị bắt bớ, đánh đập, tù đày; nói ra có thể bị mất việc, mất chức, mất địa vị, mất danh tiếng, mất cả tài chánh để nuôi thân và gia đình, mất cả cơ sở sinh hoạt (chùa chiền, nhà thờ…). Cá nhân đã không dám nói lời trung thực, mà ngay cả tổ chức mà cá nhân đó tham dự cũng không dám bày tỏ điều gì khác với những hư dối chung quanh. Nghĩa là từ cá nhân đến tập thể, từ những tổ chức nhỏ đến những tổ chức lớn qui tụ hàng chục nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn thành viên, có mặt với sứ mệnh văn hóa, giáo dục, phục vụ lợi ích số đông… mà trong một xã hội đạo đức băng hoại, tụt dốc, và trong nguy cơ mất nước, mất chủ quyền, cũng không thể mạnh dạn nói lên một lời trung thực.


Điều gì đã làm chúng ta sợ hãi không dám lên tiếng bảo vệ sự thực, không dám bày tỏ thẳng thắn mối ưu tư của mình về tình trạng môi sinh đang bị hủy hoại, không dám đưa ra quan điểm của mình về hiểm họa lãnh thổ và biển đảo bị xâm lấn?

Chỉ vì bảo vệ tự ngã của mình mà thôi.

*

Sợ hãi là phản ứng của một người trước một sự kiện hay ấn tượng mà họ đã trải nghiệm, hoặc tiên đoán (nhờ rút tỉa từ kinh nghiệm), sẽ gây thiệt hại đến nhân thân (sức khoẻ, sinh mệnh) hoặc tổn thương, suy giảm đến những gì mình sở hữu (danh dự, tài sản, sự nghiệp…).

Phản ứng này là do chấp vào một cái tôi (ngã chấp) ngay từ khi mới chào đời, rồi được bồi đắp và làm cho kiên cố, sâu nặng thêm theo thời gian với những gì được tạo dựng, sở hữu (ngã sở).

Cái tôi càng lớn, sợ hãi càng sâu.

Cái sợ nầy đến từ bên trong. Những đe dọa, khủng bố từ kẻ khác chỉ là phụ thuộc.

Đập vỡ cái vỏ của tự ngã thì không còn sợ hãi, âu lo; không ai có thể đe dọa, khủng bố chúng ta được nữa.

Nhưng để làm được điều nầy, phải thấy được cả thân và tâm đều là ảo ảnh, không thực. Thân nầy không thực, tâm nầy (cảm giác, tư tưởng, hành nghiệp và nhận thức) cũng không thực.

Thân và tâm nầy không thực thì cả thế gian nầy cũng không thực.

(Đã không thực thì có cần phải lên tiếng về một sự thực, về nỗi thống khổ của số đông hay không?)

Bản chất của tự ngã, của thế gian chỉ là ảo ảnh, chỉ là giấc mộng huyễn hóa. Nhưng tác động nhân duyên của tự ngã và thế giới chúng sinh là có thực. Thống khổ của nhân sinh là có thực.

Khi chúng ta có tri kiến/nhận thức một cách thấu suốt về lẽ không thực của tự ngã, chúng ta có thể vượt qua được những khổ đau (không thực) tác động (một cách không thực) lên thân tâm chúng ta. Nhưng thực trạng khổ đau của con người, của chúng sinh vẫn tiếp diễn trong nhận thức điên đảo mộng tưởng của họ. Vận dụng cái thấy như thực về tự ngã (trí) để dấy khởi lòng thương (bi) đối với thế giới chúng sinh, là con đường của kẻ giác ngộ (bồ-tát).

*

Khi kẻ lữ hành cô độc thong dong bước ngang những lầu đài tráng lệ và những xó xỉnh sình lầy bẩn nhơ, nhân sinh vẫn cất lên tiếng than khóc về nỗi trầm thống bất tận của họ.

Một lời nói để đắp thêm tiếng thơm hay lợi lạc cho tự thân: không cần thiết; nhưng bày tỏ trung thực về thực trạng khổ đau của kiếp người: rất nên.

California, ngày 24 tháng 9 năm 2016

Vĩnh Hảo
(www.vinhhao.net)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tháng rồi tôi tìm ra một cái nhà trọ rẻ không ngờ, giá chỉ 10.000 kips mỗi đêm (khoảng một US dollar) thôi, nơi bản làng của người Khơ Mú – ở Thượng Lào. Tất nhiên là không có giường nệm, bàn ghế, điện nước gì ráo – ngoài một cái đèn dầu hột vịt tù mù.
Hồng hạc là tên của loài chim lội nước thuộc họ Phoenicopteridae, thường có thói quen sống từng đàn. Bahamas là một quốc đảo ở vùng biển Caribe, nơi tập trung rất nhiều chim hồng hạc. Loài chim nầy cũng là biểu tượng của đảo quốc Bahamas.
Tiếng Hạnh réo the thé ngoài cửa: - Hôm nay bà có đi chơi với tuị tui hôn? lần này bà không đi thì tụi tui không bao giờ rủ bà nữa đâu.
Trong sự thay đổi nhân viên trong nội các ‘như thay đổi áo’ thời TT Trump, John Bolton là nhân vật trọng yếu thứ ba trong ngành An Ninh QG bị mất ghế.
Một tượng đài Lone Sailor – Người Thuỷ thủ Cô đơn – đã được đặt ở công viên Ricardo J. Bordallo Governor's Complex, Hagatna trên đảo Guam.
Sau nhiều tháng biểu tình với quy mô lớn ở Hồng Kông, tương lai của thành phố như là cầu nối giữa Hoa Lục và thế giới bên ngoài đang trong tình trạng lâm nguy.
Dắt em gái về bên gốc cây dầu ở giữa con phố nhiều quán xá để đánh giày kiếm sống, sáng hôm ấy nó làm được ba người khách, lòng thấy vui lắm, có lẽ dễ sống hơn ở chỗ cũ.
Truyện này trích từ tuyển tập Mê Cung của nhà văn Đào Văn Bình... đồng hương Bắc California có thể gặp tác giả Đào Văn Bình và nhiều nhà văn khác, cũng như sẽ gặp khoảng 300 đầu sách nhiều đề tài để chọn lựa tại Hội Chợ Sách tại San Jose vào ngày 19/10/2019.
Nhà thơ Pháp, Guillaume Apollinaire sinh vào năm 1880 và bài thơ Le Pont Mirabeau được viết vào tháng 2-năm 1912, một bài thơ có âm hưởng như một bản nhạc… Nhạc sĩ Trinh Công Sơn sanh năm 1939 và bản nhạc Tình Xa được ra đời vào những năm 1960-70, một bản nhạc lãng mạn với lời như một bài thơ tình.
Tôi trọng tấm chân tình của ông dành cho quê hương, cái lập trường kiên định của ông trong cuộc chiến chống cái xấu, chống cái ác của chế độ đàn áp con người, chế độ không chấp nhận tiếng nói ôn hòa của đối lập, của phê phán, của góp ý xây dựng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.