Hôm nay,  

Không Sợ Hãi

06/10/201600:00:00(Xem: 8670)

Từ năm 2001, đầu thế kỷ 21, ngôn ngữ truyền thông bắt đầu nhắc đến nhiều từ ngữ “khủng bố,” “chủ nghĩa khủng bố” (terror/terrorism). Đây không phải là từ ngữ mới, nhưng nó được nhấn mạnh và sử dụng nhiều sau sự kiện 11/9/2001, với tòa tháp đôi ở New York sụp đổ hoàn toàn do những chiếc phi cơ bị những kẻ khủng bố Al-Qaeda dùng bạo lực cưỡng chế phi hành đoàn, điều hướng đâm vào. Trước đó 6 tháng, vào ngày 10 tháng 3 năm 2001, lực lượng Taliban ở A-phú-hãn (Afghanistan) đã cho nổ bom làm sụp đổ hai tượng Phật khổng lồ khắc trong núi đá, có niên đại hơn 1500 năm. Hành động phá hủy tượng Phật lúc đó dù là hành vi bạo động nhưng không bị xem như là khủng bố, mà là hành động hủy diệt văn hóa nhân loại nghiêm trọng (theo sự lên án của Tổ chức Văn hóa – Khoa học và Giáo dục LHQ - UNESCO). Vậy, có thể hiểu “khủng bố” là lời nói hay hành vi đe dọa trực tiếp đến mạng sống và đời sống của con người; nhẹ thì từ những cá nhân với mục đích trục lợi, tống tiền; nặng thì từ các tổ chức tôn giáo, chính trị để nêu cao lý tưởng của họ, hoặc từ các nhà cầm quyền nhằm ngăn chặn tiếng nói đối lập để giữ vững chế độ.

Từ “khủng bố” cũng được nghe quen từ bản Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh do Pháp sư Trần Huyền Trang (Đường Tam Tạng) dịch từ Prajđā Pāramitā Sūtra vào năm 649, sau được cô đọng lại thành bản Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh 260 chữ. Trong kinh văn nầy, chữ “khủng” và “bố” đều mang nghĩa đơn giản là (bị) sợ hãi, đe dọa; mà để không bị sợ hãi, đe dọa, tâm phải tịch lặng, an nhiên, không bị vướng mắc, trở ngại (tâm vô quái ngại). Tâm không bị vướng mắc, ngăn ngại là tâm vô trụ (ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm); tâm vô trụ là tâm không có tự ngã, là tâm bản nhiên, tâm bất sanh. Chỉ với cái tâm như thế, mới không còn sợ hãi.

*

Trong hoàn cảnh mà nhan nhản chung quanh chỉ toàn là những lời hư dối, người ta sợ phải nói những điều trung thực; nói ra có thể bị bắt bớ, đánh đập, tù đày; nói ra có thể bị mất việc, mất chức, mất địa vị, mất danh tiếng, mất cả tài chánh để nuôi thân và gia đình, mất cả cơ sở sinh hoạt (chùa chiền, nhà thờ…). Cá nhân đã không dám nói lời trung thực, mà ngay cả tổ chức mà cá nhân đó tham dự cũng không dám bày tỏ điều gì khác với những hư dối chung quanh. Nghĩa là từ cá nhân đến tập thể, từ những tổ chức nhỏ đến những tổ chức lớn qui tụ hàng chục nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn thành viên, có mặt với sứ mệnh văn hóa, giáo dục, phục vụ lợi ích số đông… mà trong một xã hội đạo đức băng hoại, tụt dốc, và trong nguy cơ mất nước, mất chủ quyền, cũng không thể mạnh dạn nói lên một lời trung thực.


Điều gì đã làm chúng ta sợ hãi không dám lên tiếng bảo vệ sự thực, không dám bày tỏ thẳng thắn mối ưu tư của mình về tình trạng môi sinh đang bị hủy hoại, không dám đưa ra quan điểm của mình về hiểm họa lãnh thổ và biển đảo bị xâm lấn?

Chỉ vì bảo vệ tự ngã của mình mà thôi.

*

Sợ hãi là phản ứng của một người trước một sự kiện hay ấn tượng mà họ đã trải nghiệm, hoặc tiên đoán (nhờ rút tỉa từ kinh nghiệm), sẽ gây thiệt hại đến nhân thân (sức khoẻ, sinh mệnh) hoặc tổn thương, suy giảm đến những gì mình sở hữu (danh dự, tài sản, sự nghiệp…).

Phản ứng này là do chấp vào một cái tôi (ngã chấp) ngay từ khi mới chào đời, rồi được bồi đắp và làm cho kiên cố, sâu nặng thêm theo thời gian với những gì được tạo dựng, sở hữu (ngã sở).

Cái tôi càng lớn, sợ hãi càng sâu.

Cái sợ nầy đến từ bên trong. Những đe dọa, khủng bố từ kẻ khác chỉ là phụ thuộc.

Đập vỡ cái vỏ của tự ngã thì không còn sợ hãi, âu lo; không ai có thể đe dọa, khủng bố chúng ta được nữa.

Nhưng để làm được điều nầy, phải thấy được cả thân và tâm đều là ảo ảnh, không thực. Thân nầy không thực, tâm nầy (cảm giác, tư tưởng, hành nghiệp và nhận thức) cũng không thực.

Thân và tâm nầy không thực thì cả thế gian nầy cũng không thực.

(Đã không thực thì có cần phải lên tiếng về một sự thực, về nỗi thống khổ của số đông hay không?)

Bản chất của tự ngã, của thế gian chỉ là ảo ảnh, chỉ là giấc mộng huyễn hóa. Nhưng tác động nhân duyên của tự ngã và thế giới chúng sinh là có thực. Thống khổ của nhân sinh là có thực.

Khi chúng ta có tri kiến/nhận thức một cách thấu suốt về lẽ không thực của tự ngã, chúng ta có thể vượt qua được những khổ đau (không thực) tác động (một cách không thực) lên thân tâm chúng ta. Nhưng thực trạng khổ đau của con người, của chúng sinh vẫn tiếp diễn trong nhận thức điên đảo mộng tưởng của họ. Vận dụng cái thấy như thực về tự ngã (trí) để dấy khởi lòng thương (bi) đối với thế giới chúng sinh, là con đường của kẻ giác ngộ (bồ-tát).

*

Khi kẻ lữ hành cô độc thong dong bước ngang những lầu đài tráng lệ và những xó xỉnh sình lầy bẩn nhơ, nhân sinh vẫn cất lên tiếng than khóc về nỗi trầm thống bất tận của họ.

Một lời nói để đắp thêm tiếng thơm hay lợi lạc cho tự thân: không cần thiết; nhưng bày tỏ trung thực về thực trạng khổ đau của kiếp người: rất nên.

California, ngày 24 tháng 9 năm 2016

Vĩnh Hảo
(www.vinhhao.net)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Kính thưa Quý vị, Nhân Mừng Xuân Mới, Điểm Hẹn KC Kính Chúc Quý Đồng Hương một Mùa Xuân An Lành và Hạnh Phúc.
Kandy là một thành phố cổ, là nơi có chiếc răng xá lợi Phật an vị trong một cái tháp vàng tôn thờ tại chùa Kandy. Chùa nằm trong cung điện hoàng gia của cựu Vương quốc Kandy, đây là ngôi đại già lam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, là thành phố hành hương rất nổi tiếng của Phật giáo. Mổi năm có triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới đến viếng.
Sri Lanka (Tích Lan) là một đảo quốc nhỏ. Dân số khoảng 21 triệu. Thủ Đô của Sri Lanka là thành phố Colombo. Phật giáo được truyền đến Sri Lanka từ thế kỷ thứ III trước Tây Lịch, Trong suốt 2,000 năm Phật giáo được xem là Quốc Giáo.Phật Giáo Sri Lanka ngày nay là Phật Giáo Theravada. Bất hạnh thay đến năm 1983 thì sanh ra nội chiến, kéo dài cho đến năm 2009 mới chấm dứt. Suốt 25 năm nội chiến người ta ước đoán có hơn 100,000 người đã chết. Hòa bình vãn hồi, nhờ Trung Quốc viện trợ mạnh mẽ, họ xây dựng hạ từng cơ sở, phát triển đường xá, khách du lịch ồ ạt đến Sri Lanka.
Điều 9 của HĐ Paris 1973: Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt-nam Dân chủ Cộng hòa cam kết tôn trọng...a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng bất khả xâm phạm và phải được các nước tôn trọng. b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị miền Nam thông qua tổng tuyển cử thực sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế.
Đã có nhiều bằng chứng cho thấy là nền văn học Việt nam với nguồn gốc xa gần đang bị chế độ chính trị làm cho biến dạng hoặc mai một. Những tác phẩm văn học giá trị một thời đều bị coi là có tính cách phong kiến hoặc tư bản đồi trụy, cấm phổ biến. Nhưng lại nẩy sinh những loạt văn chương một chiều để nhất thời tuyên truyền tôn xưng chủ thuyết độc đoán, phục vụ chế độ.
Các giáo hữu Tin lành, thường dùng văn kiện suy nghĩ và sanh hoạt chánh là cuốn Thánh Kinh Bible, và lời dạy bốn sách giảng Tin lành – Évangiles, của bốn tông đồ của Jêsus. Do đó, sanh hoạt tại các Nhà Thờ đến từ Phong trào Cải cách của thế kỷ thứ 16 đều được chuyển qua Việt ngữ dưới tên gọi dịch dưới tên các Nhà Thờ Tin lành
Đâu là hướng đi của Phật Giáo Việt Nam tại Mỹ? Trả lời đầy đủ cho câu hỏi trên cần đến công phu nghiên cứu của nhiều người. Vì thế, bài viết này xin được xem là suy nghĩ và gợi ý của một cá nhân.
Thật là một đặc ân được có mặt trong diễn đàn ngoại giao kinh doanh và khoa học và những người vì các vấn đề thế giới đã tập trung khá nhiều năm để thảo luận làm thế nào chúng ta có thể tiến tới sự thịnh vượng và hòa bình.
Trong lời thưa cuốn Thiền Tập Trong Đời Thường tác giả còn mong sách sẽ giúp độc giả cảm thọ hạnh phúc hơn và tự chữa trị nhiều bệnh tâm thân. Thiền không những đã vuợt không gian, thời gian mà còn vuợt cả đạo giáo và thể chế.
vào Thiên niên kỷ Thứ Ba của toàn cầu hoá, để thấy rằng biên giới chánh trị giữa các quốc gia chỉ là một làn ranh ảo. Không hề có biên giới trong toàn hệ sinh thái Sông Mekong. Mekong không chỉ là mạch sống của hai dân tộc Việt Khmer mà còn là sợi dây nối kết
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.