Hôm nay,  

Mưa Đen

07/10/201608:29:00(Xem: 7057)
Mưa Đen
  
Sean Bảo


blank
​  
Mất 3 năm nghiên cứu và chế tạo trong tối mật, dự án Manhatan tốn 2 tỉ đô la. Cuối cùng thì cuộc thử nghiệm cho quả bom nguyên tử đầu tiên xảy ra ở  hoang mạc New Mexico. Một ánh chớp khủng lồ sáng hơn cả mặt trời có thể thấy từ xa 16 km. Một người lính ở xa 3 km bị hất tung. Một người khác ở xa 8 km bị lòa mắt.  Giàn thép cao chứa trái bom bốc hơi liền trong không khí, cát trong sa mạc nóng chảy thành một tấm kính lớn trên mặt đất, một đám mây hình cái nấm bốc lên cao hơn chục km. Sức nổ của quả bom thử nghiệm tương đương với 67 triệu thanh dynamite. 
Dự tính ban đầu quả bom dành cho quân Đức. Nhưng đến tháng 7, 1945 Đức Quốc Xã bại trận, cuộc chiến ở Châu Âu kết thúc. Trong khi ấy thì cuộc chiến ở Thái Bình Dương vẫn ngày càng khốc liệt. Kể từ sau cuộc tấn công bất ngờ của quân đội Nhật vào Trân Châu Cảng, quân Mỹ đã kiên cường đánh trả, chiếm từng hòn đảo của Nhật ở biển Thái Bình. Nhưng gặp sự chống trả mãnh liệt của lính Nhật. Hệ thống tuyên truyền Nhật cho rằng lính Mỹ rất dã man, giết chóc hãm hiếp phụ nữ trẻ em…nên người Nhật thà chết chớ không chịu đầu hàng. Các cuộc ném bom lửa lên các thành phố của Nhật dù gây thiệt hại nhưng xem ra không làm người Nhật lung lay. Quân đội Nhật hầu như còn nguyên vẹn, đàn bà trẻ em ngày đêm được huấn luyện sẳn sàng chiến đấu với tre gậy vót nhọn. Trước tình thế ấy một cuộc đổ bộ lên lảnh thổ Nhật là điều không thể tránh khỏi, dù ước tính thiệt hại nhân mạng cho lính Mỹ có thể lên triệu người. Trước đó các trận chiến nhỏ nhằm chiếm dần các hòn đảo nhỏ của Nhật như Tinian, Saipan…người Mỹ đã bị tổn thất nặng nề bởi sự chống trả sống còn của quân Nhật. Quả bom nguyên tử đầu tiên được quyết định thả lên nước Nhật. Đó là cách chấm dứt cuộc thế chiến sớm hơn 6 tháng, ít tổn hại nhân mạng cho người Mỹ. Và đó cũng là giải pháp tối hậu sau nhiều lần cảnh cáo đến nước Nhật. 
 
Trong khi ấy thì quân đội Nhật vẫn một lòng trung thành với Nhật Hoàng. Họ được huấn luyện mang bom lao vào xe tăng, dùng máy bay lao vào các chiến hạm Mỹ để tự sát. Ngày 17 tháng 7, 1945 ở Hội Nghị thượng đỉnh Postdam với tam cường quốc đồng minh, tổng thống Truman đã hé lộ về khả năng sử dụng “một vũ khí tối thượng” với Churchill. Và Stalin khi nghe tin ấy  nói rằng rất phù hợp nếu dùng cho quân Nhật vào lúc ấy. Tổng thống Truman đã cho người Nhật cơ hội cuối để đầu hàng. Các cuộc điện tin của Nhật được tình báo Mỹ giải mã cho biết Nhật Hoàng không chấp nhận một cuộc đầu hàng vô điều kiện, vì như vậy sẽ đe dọa đến tính mạng Hoàng Đế và triều đại. Vì vậy người Mỹ đã sửa lại chút đỉnh: buộc quân đội Nhật đầu hàng vô điều kiện. Làm như vậy để cho Nhật Hoàng có một lối thoát. Tối hậu thư được gởi đến Nhật. Nội các Nhật thì lại xem việc này là một bước chùn tay của quân Mỹ, rằng người Mỹ sợ tổn thất nhân mạng và tinh thần quân đội Nhật còn rất hăng say vào lúc ấy. Nhật không phúc đáp.
Và thế là 2 giờ sau khi thử nghiệm thành công, quả bom bí mật rời San Francisco theo chiến hạm  USS Indianapolis đến hòn đảo Tinian sau 10 ngày trên Thái Bình Dương. Hòn đảo này sau khi chiếm được, Mỹ đã xây 4 đường băng lớn cho căn cứ không quân lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Hơn 500 chiếc pháo đài bay B-29 từ Tinian bay vào đất Nhật Bản chỉ mất 6 tiếng. Mục tiêu chính là Hiroshima, Kurkurra và Nagasaki. Hiroshima được chọn vì đó là một thành phố kỹ nghệ và quân sự lớn, nơi Quân Đoàn 2 trú đóng nhằm chuẩn bị phản công cho cuộc đổ bộ của quân Mỹ.
 
3 chiếc máy bay cất cánh sáng ngày 6 tháng 8, 1945. Quả bom hơn 4 tấn gọi là “Cậu bé nhỏ” được chiếc B-29 tên Enola Gay ( tên người mẹ của phi công Tibbets) chở đi. Chiếc thứ hai mang các thiết bị quay phim và chiếc còn lại lo việc chụp hình. Họ được phát viên thuốc cyanide, sẽ ngậm tự sát phòng khi bị rơi vào tay quân Nhật. Sáng hôm ấy bầu trời Hiroshima thật trong xanh, ít gợn mây. Một chiếc máy bay Mỹ thám thính bay trước để xem thời tiết làm còi báo động thành phố hụ lên. Người dân chạy tản mát vào các hầm tránh bom. 30 phút sau chiếc máy bay thám thính biến mất, mọi người trở lại đường phố sinh hoạt như thường lệ của một thành phố sầm uất. Hàng ngàn lính Nhật tập thể dục buổi sáng trong doanh trại. 8:15 phút sáng thành phố náo nhiệt vào ngày. Các trẻ em xong bửa ăn sáng và chuẩn bị đến trường.
Từ trên cao chiếc Enola Gay nhìn thấy mục tiêu cầu chữ T. Quả bom rơi, 43 giây sau ngòi kích nổ vào buồng uranium, các phân tử atom kích hoạt phản ứng dây chuyền, 2 giây sau đó một ánh sáng chói lòa như quả cầu lửa rộng 300 mét. Nhiệt độ phía dưới quả cầu lửa lên đến 4 ngàn độ C. Sức nóng kinh hoàng này để lại hình dáng của mọi thứ bị hủy diệt in hằn vào tường đá và kim loại. Quả bom tương đương 20 ngàn tấn TNT đã làm những nạn nhân ở ngoài trời tan biến vào không khí hay thành tro bụi tức thì. Cùng lúc ấy sức nổ đem các luồng phóng xạ và tia gamma đi xuyên qua tường nhà, đi vào các tế bào mọi sinh vật. Tích tắc sau đó là chấn động tàn bạo đi nhanh với tốc độ âm thanh. Nhà cửa bị thổi tung biến thành hàng triệu mãnh vỡ bén nhọn xuyên thủng thịt da. Cả thành phố chừng như biến mất sau vài giây. Những nạn nhân sống sót thì thịt da bị cháy bỏng, người biến dạng ám đầy khói bụi đen và họ từ các đống đổ nát gạch đá chui lên, tìm cách đi khắp mọi hướng trong im lặng chết chóc. Cháy bỏng làm họ cảm giác thật nóng. Họ kêu gào xin nước uống, họ tìm cách chen chúc đi đến các sông hồ…Ở đó họ bị chèn lên nhau chết ngạt. Bất chợt một cơn mưa rớt hột. Những hạt mưa đen rơi trên thành phố còn nhen nhúm cháy trong tro bụi. Mọi người há miệng hứng nước mưa. Những giọt mưa to và nặng làm đau xót thịt da. Người ta uống giọt mưa đen mà không biết rằng họ đã uống lấy chất phóng xạ. Không biết chính xác con số tử vong là bao nhiêu vào lúc ấy…
 
Chiều ngày hôm ấy, thị trưởng thành phố Hiroshima lên án Mỹ và khuyến khích dân chúng giữ vững lòng tin vào Nhật Hoàng và chiến thắng của nước Nhật. Các nỗ lực cứu trợ bắt đầu cho Hiroshima. 3 ngày sau Nhật Hoàng vẫn không chịu đầu hàng. Tổng thống Truman tuyên bố "nếu bây giờ họ không chấp nhận các điều kiện của chúng ta, họ sẽ phải gánh chịu cơn mưa tàn phá từ trên trời, những thứ chưa hề được biết đến trên trái đất." Ông khuyến cáo người dân Nhật rời bỏ các thành phố công nghiệp ngay lập tức, rằng người Mỹ sẽ tiếp tục thả bom nguyên tử để đáp trả quân đội Nhật đã tấn công Trân Châu Cảng, đã đánh đập, giam cầm, làm chết đói các tù binh Mỹ trong chiến tranh ở Phi Luật Tân…làm kết thúc chiến tranh sớm hơn và cứu hàng trăm ngàn binh lính Mỹ non trẻ. Những tờ truyền đơn được thả xuống từ trên cao. 
 
Quả bom thứ nhì tên “Chàng mập” (và là quả bom cuối cùng mà người Mỹ sẵn có, trong khi người Nhật không hay biết) được thả xuống Nagasaki. Trước đó dự định thả xuống Koruta nhưng do trời nhiều mây, xăng gần cạn, quả bom rơi không trúng mục tiêu mà rớt xuống một triền thung lũng, không có một biển lửa nhưng cũng làm nhiều chục ngàn người chết. Nội các Nhật phải họp khẩn. Tokyo đã nhận được lời tuyên chiến của Stalin ngày hôm trước và Hồng Quân tiến vào Mãn Châu. Ngày 14 tháng 7 phe chủ chiến của quân đội Nhật âm mưu một cuộc đảo chính chống lại việc đầu hàng bất thành. Hôm sau Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng.  
Cuộc thế chiến thực sự chấm dứt, lần đầu tiên bom nguyên tử được dùng và con số tử vong ước chừng khoảng 200 ngàn người. Đó là con số không chính xác bởi nhiều nạn nhân là người Triều Tiên bị bắt làm tù binh ở Nhật. Các ý kiến trái chiều về vai trò của bom nguyên tử trong việc thúc đẩy nước Nhật đầu hàng vẫn còn bàn cãi. Tháng 5 vừa qua, sau 71 năm, lần đầu tiên một vị Tổng Thống Mỹ tại chức đã viếng thăm Hiroshima và tưởng niệm các nạn nhân của cuộc chiến. Những câu nói đầy cảm xúc chân thành của cho các nạn nhân, về một thế giới không có vũ khí hạt nhân. Nhưng không có lời xin lỗi nước Nhật. 
 
Chạnh nhớ nạn đói năm Ất Dậu 1945 làm hơn 2 triệu người Bắc Việt đã chết. Trong đó ngoài nguyên nhân của thiên tai, mất mùa, đê vỡ, còn có sự tàn nhẫn của cuộc thế chiến, của người Pháp và Nhật. Có đài tưởng niệm, có lời xin lỗi nào cho 2 triệu người năm ấy chưa nhỉ?   
 
Sean Bảo
  
   


.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.